II. CÁ TÍNH
1. Bất cứ người Việt-Nam, Trung-Hoa nào cũng biết câu
:
Trai Nhâm, gái Quý.
Để chỉ là con trai nên sinh vào năm Nhâm, là con gái
nên sinh vào năm Quý. Câu thành ngữ này xuất phát từ Tử-vi kinh :
"Nam nghi Nhâm, nữ nghi Quý".
Nghĩa là : Nam nên Nhâm, nữ nên Quý.
Người sau giải thích :
Phù, nam Nhâm nhi dương thái thịnh. Ngu giả vi trượng
phu.
Hiền giả vi anh-hùng dã. Nữ Quí giả, âm thái thịnh, hiền nhi thả nhu.
(Triệu-thị minh thuyết Tử-vi-kinh, chương can, chi
luận).
Nghĩa là đàn ông tuổi Nhâm thì dương tính mạnh bậc
nhất, nếu là kẻ thất học cũng thành đấng trượng phu, nếu là bậc hiền-giả thì sẽ
trở thành anh-hùng. Còn người đàn bà tuổi Quý, âm tính mạnh bậc nhất, sẽ là
người vừa hiền vừa nhu thuận.
Các Tử-vi gia đời Tống bên Trung-hoa, đời Trần bên
Việt-Nam đều công nhận câu trên là đúng.
Trong Tử-vi-kinh cũng bàn rằng trai không nên Quý, gái
không nên Nhâm. Bởi trai tuổi Quý nhiều Âm-t ính quá, trở thành hiền, mà theo
triết học Á-châu thì "Quá hiền giả ngu", nghĩa là người hiền quá
thành ngu. Ngược lại gái thì không nên tuổi Nhâm, bởi tuổi Nhâm nhiều
dương-tính sẽ thành vô duyên, có cử chỉ như trượng phu.
Đây là quan niệm cổ, còn ngày nay trai Quý, gái Nhâm
vẫn tốt. Xã hội cuối thế-kỷ thứ 20 ngày nay càng đi vào tranh dành, ác độc. Nếu
có người đàn ông tuổi Quý hiền hậu, trung thực chẳng đáng trọng ư ? Còn nữ tuổi
Nhâm có xấu không ? Trên thế-giới hiện có 9 nước theo chế độ quân-chủ thì hết
ba nước do nữ-hoàng cai-trị. Một nước có nữ tổng thống. Hai nước có nữ
thủ-tướng, và khoảng 50 nữ bộ trưởng. Ngày nay, nếu có nhiều phụ-nữ đầy
dương-tính, lợi cho xã-hội biết bao ?
Vậy nữ Nhâm vẫn đáng trọng.
2. Tuổi Tý đã tinh-khôn hơn các tuổi khác, mà lại Nhâm
nữa thì quả tuổi Nhâm-Tý là tuổi xuất chúng.
3. Bàn về ngũ-hành, Nhâm Tý mệnh tang-đố-mộc. Chi Tý
thuộc thủy. Nhâm cũng thuộc thủy. Thủy sinh mộc, như vậy tuổi Nhâm-Tý được cả
can lẫn chi sinh ra bản mệnh. Nhâm thuộc màu đen. Tý là con chuột, nên người ta
gọi Nhâm-Tý là con chuột đen, để phân biệt với các tuổi Tý khác.
3.1. Can Nhâm thuộc dương, Chi Tý thuộc dương kết
thành tuổi thuần-dương. Mệnh là bản chất con người, thiên tư con người trời
sinh ra. Chi là địa-bàn chủ những thay đổi của con người trước những
biến-chuyển cuộc-đời. Can là tác dụng của hoàn-cảnh ở ngoài vào con người.
Nếu ví con người với một chiếc xe thì bản mệnh là
chiếc xe. Xe hiệu gì, mã lực bao nhiêu, ưu điểm, khuyết điểm của từng loại xe
khác nhau. Còn chi là đường xá, xe chạy trên đường tốt thì bền, mau, chạy trên
đường xấu thì chậm trễ, dễ hỏng. Còn can là ngày, là giờ, là mùa, là nắng, là
cát là bụi, là cây cỏ, thú vật, trên đường đi, ảnh hưởng, tác dụng vào chiếc
xe.
3.2. Tuổi Nhâm-Tý được can, chi sinh ra bổn mệnh thì :
– Những thay đổi của cuộc đời, dù thế nào chăng nữa
cũng vẫn là thay đổi tốt cho bản mệnh.
Cổ nhân nói :
"Nhân sinh bất như ý sự thường bát cửu".
Nghĩa là trong cuộc sống của con người, những điều bất
như ý thường chiếm đến 8, 9 phần mười.
Câu này không đúng với tuổi Nhâm-Tý. Nhâm-Tý sinh ra
thu được tất cả những thay đổi của cuộc đời vào trợ giúp cho bản-mệnh, thì còn
gì là sung sướng hơn ? Còn gì đắc ý hơn ?
– Cuộc đời con người đầy sóng-gió. Mỗi chặng đường đi
đầy rẫy chông gai nguy-hiểm. Chỉ có Nhâm-Tý, thì những sóng gió luôn luôn lợi
cho bản-mệnh.
3.3. Thường sau những biến cố bất lợi, chính biến cố
đó nảy sinh ra chân trời mới đầy hoa thơm cỏ lạ, như truyện Tái-ông mất ngựa
của ngụ-ngôn Trung-quốc :
Tái ông có con ngựa hay. Một hôm xổ chuồng đi mất.
Hàng xóm chia buồn. Ông trả lời :
– Mất ngựa không phải là điều bất hạnh.
Mấy hôm sau con ngựa trở về dẫn theo con ngựa rừng.
Hàng xóm đến chia mừng. Ông nói :
– Được ngựa không phải là điều đáng mừng.
Hơn tháng sau. Người con ông cưỡi ngựa rừng, bị ngựa
vật ngã gẫy chân. Hàng xóm đến an ủi. Ông nói :
– Con tôi què chân không hẳn là điều rủi.
Chỉ ít lâu sau loạn lạc xẩy ra, trai tráng phải đi
lính, chết trận không biết bao nhiêu mà kể, duy có con trai ông vì gẫy chân nên
khỏi đi lính.
3.4. Nhâm Tý đắc cách can, chi sinh bản mệnh. Cổ nhân
mệnh danh là :
"Thiên địa đồng qui".
Nghĩa là trời, đất cùng họp về một mối.
Học thuyết âm-dương nói rằng trời là dương, đất là âm.
Khi trời đất gồm về một mối, thì âm-dương điều hòa.
Con người có cách "Thiên-địa đồng qui" không
gì làm họ bế tắc được.
3.5. Các Tử-vi-gia sau đời Tống, khi nói về tuổi Nhâm
Tý thường mang lẽ thiên-địa đồng-qui bàn rộng ra rằng tuổi Nhâm-Tý có tài thu
tóm cả trời đất vào trong tay, và tuổi này đi tu sẽ đắc-đạo, trở thành tiên,
thành Phật. Thực ra Nhâm-Tý quả có hạnh đi tu, nhưng cả trăm triệu người mới có
một người đắc đạo.
3.6. Chữ thiên-địa đồng-qui phải hiểu rằng họ biết
được lẽ biến hóa không ngừng của vũ-trụ. Hành-sự hợp với biến chuyển của trời
đất. Mọi sự họ làm đều không xa thần-linh (Của tôn giáo họ).
3.7. Họ lại biết dung hòa chân-tâm với biến đổi ngoại
vật, nên không viển-vông, hão-huyền. Đối với vạn-vật, họ dung hòa giữa
âm-dương.
3.8. Đối với loài người. Họ biết được nội tâm của từng
loài. Học thuyết âm-dương định rằng thiên là dương, địa là âm. Âm-d ương đồng
qui thì con người Nhâm-Tý thăng bằng. Họ làm việc trung-dung, ít khi quá khích.
Họ không theo bè, kết đảng, mà tự giác, tự tỉnh, rồi hành sự.
3.9. Ít khi tuổi Nhâm-Tý chạy theo người này, hay
người khác. Các nhà tu tuổi Nhâm-Tý thường là những vị có địa vị tối cao, giỏi
kinh điển, đông tín đồ.
4. Tuổi Nhâm-Tý là tuổi nhìn xa thấy rộng, biết mình,
hiểu mình, hòa-hợp được các mâu-thuẫn, chông gai của số mạng. Cổ nhân
bình-luận:
"Thượng hiệp vu thiên,
Hạ tri vạn vật".
Nghĩa là : Trên hợp với trời, dưới thông vạn-vật.
4.1. Nếu so sánh với các tuổi Tý khác tuổi Giáp-Tý là
tuổi có năng-khiếu nhận xét sự vật xung quanh, để đưa ra đường lối hành động
(quyết-đoán) và do đó biết điều-khiển tình-thế, tức "Ôm giang-sơn vào
lòng". Tuổi Bính-Tý là tuổi mẫn-tiệp, đa-năng, ở đâu cũng là người lãnh
đạo. Tuổi Mậu-Tý thiên-tính tự điều-chỉnh số-mạng đi đúng đường. Tuổi Canh-Tý
là tuổi thanh-khiết, đạo-đức. Còn tuổi Nhâm-Tý thì đi xa hơn, siêu-nhiên hơn là
hiểu được thiên-mệnh biết được lòng người.
4.2. Nhân sinh thường không biết tri-kỷ tức là tự biết
mình. Tự biết mình đang ở trong hoàn-cảnh nào ? Sức khỏe ra sao ? Năng khiếu
hướng về đâu ? Tài-ba ở bực nào ? Khi không biết mình, biết thế-sự rồi than tại
sao tôi đau yếu mà người thì khỏe mạnh. Tại sao tôi nghèo, mà người thì giàu.
Tại sao tôi khổ, mà người thì sướng ? Từ đó sinh ra oán hờn cuộc đời.
Nhưng cũng có người an-phận thủ-thường, tự biết mình,
không bon chen, không tranh đua, nhìn cuộc thế dưới con mắt bình-hòa, đó là
người "tri túc" tức là biết đầy đủ. Người tuổi Nhâm-Tý tự biết mình,
tự hiểu mình.
5. Nếu số Tử-vi họ có những sao hiền hòa, thì Nhâm-Tý
lấy cái biết mình như thế nào, mà thiết-kế cho cuộc đời đạo lý. Còn người có
sát tinh thủ mệnh thì họ dùng cái biết mình, ưu điểm khuyết điểm của mình để
làm những điều ác. Nhưng dù ác hay thiện thì Nhâm-Tý là tuổi tri-kỷ, tức tự
biết mình. Khi họ tự biết mình, người có sao thủ-mệnh minh mẫn, họ nắm được
cuộc đời trong tay.
5.1. Nhưng biết là một truyện, làm được hay không là
truyện khác, bởi vậy có nhiều người Nhâm-Tý biết mình mà không biết đưa mình
vào đường nào, lối nào phù-hợp với đạo lý phù-hợp với nhân-sinh. Nhâm-Tý thua
Giáp-Tý, Bính-Tý ở điểm này.
Câu truyện ngụ ngôn "Con cọp và con trâu"
sau đây để dẫn chứng về biết mình, biết người :
Con cọp thấy trâu làm việc suốt ngày dưới nắng. Cọp
hỏi trâu :
– Anh trâu ơi, tôi thấy anh to lớn, khoẻ mạnh, tại sao
anh để cho người nông-phu bé nhỏ bắt anh làm việc, còn bị đánh đập như vậy ?
Trâu trả lời :
– Tôi chịu để cho người ta sai khiến đánh đập vì họ có
trí khôn.
Cọp hỏi người nông-phu :
– Ông nông-phu ơi, trí khôn của ông ở đâu, cho tôi xem
một tý được không ?
Người nông-phu trả lời :
– Trí khôn tôi để ở nhà, nếu tôi về lấy thì ông ăn
thịt con trâu của tôi. Ông mu ốn xem, phải cho tôi trói ông lại đã.
Cọp bằng lòng cho người nông-phu trói lại. Sau khi
trói cọp rồi, người nông-phu lấy bắp cày đánh cọp, nói rằng :
– Trí khôn của tao đây.
Câu chuyện trên cho thấy trâu là người biết mình, cọp
là người không biết người, cũng không biết mình. Còn nông-phu là người biết
mình, biết người.
5.2. Tuổi Nhâm-Tý là tuổi nhìn xa biết rộng. Một
sự-vật diễn ra, họ biết lý luận để tìm rõ nguyên-ủy do đâu mà có, sau sự kiện
này, những gì sẽ xảy ra. Nhờ đức tính đó, Nhâm-Tý có thể làm nghề nghiên-cứu,
và thành công. Nếu làm chính-trị, quân-sự, họ là nhà chỉ-đạo tài ba. Khi một
trận đánh diễn ra, họ thấy ngay nguồn gốc của lẽ thắng bại, cùng những biến-cố
tiếp diễn do ảnh hưởng của trận đánh. Nếu họ có tài hơn, họ biết phải làm thế
nào khi họ bại, hoặc thắng. Vì nhìn xa, thấy rộng, họ ít ngạc nhiên trước những
biến cố đã, đang và sẽ xảy ra.
5.3. Người ta cho rằng tuổi Nhâm-Tý nhờ ơn siêu nhiên
mà biết trước mọi biến-cố, nghĩ như thế là sai. Có thể họ có ơn siêu nhiên, ví
dù không có ơn trên ban cho, thì với khả-năng trông rộng, nhìn xa họ kiến-giải
sự việc vẫn đúng, đó là đặc tính của họ.
5.4. Dẫn chứng lịch-sử :
Trần-quốc-Tảng, con thứ Hưng-Đạo vương. Ngài xuất thân
làm tướng đánh Mông-cổ. Khi nước thanh bình, ngài bỏ đi tu, pháp danh
Tuệ-Trung. Ngài đắc đạo, nên được chúng nhân tôn xưng làm Tuệ-Trung bồ-tát
(1252-1313).
Ngài tuổi Nhâm-Tý, vì nổi tiếng trông rộng nhìn xa đời
Trần. Bởi vậy người ta nghi ngài là Bồ-tát A-Nan đầu thai. Xét kỹ hành-trạng
của ngài, chẳng qua có đức tính thấy mọi sự trước chúng sinh, như Bồ-tát A-Nan
xưa kia, nên huyền-thoại hóa đi như thế.
Huyền sử kể, sau khi đánh đuổi quân Mông-cổ. Hưng-Đạo
vương họp con, cháu, tướng sĩ lại để thử lòng. Ngài nói :
– Ta muốn lấy ngôi vua để báo thù cho phụ vương. Các
người nghĩ sao ?
Hưng-Đạo vương là con An-sinh vương Trần-Liễu.
Trần-Liễu kết hôn với công chúa Thuận-Thiên. Em Trần-Liễu là Trần-Cảnh kết hôn
với Lý-chiêu-Hoàng. Trần-Cảnh được vợ nhường ngôi, thành vua Trần Thái-Tông.
Năm Chiêu-Hoàng mười chín tuổi, không con. Bấy giờ thái sư Trần-thủ-Độ sợ tôn
thất nhà Lý rục rịch muốn đòi lại ngôi vua, mới giáng Chiêu-Hoàng xuống làm
công chúa. Lại bắt vợ Trần-Liễu mới có mang ba tháng vào cung làm vợ Trần-Cảnh.
Khi Trần-Liễu sắp chết, di chúc cho con cháu, sau phải lấy ngôi vua của Trần-Cảnh
để báo thù.
Nay Hưng-đạo-vương họp các con để thử lòng bằng cách
đem việc An-sinh-vương Trần-Liễu dặn cướp ngôi vua Trần để trả thù.
Hoài-văn-hầu Trần-quốc-Toản chưa phát biểu ý-kiến
xong, đã bị Vương mắng "phạt" phải rời Thăng-long lĩnh ấn Trấn-bắc đại-tướng-quân.
Không ai hiểu ý Hưng-đạo-vương, ngoài Tuệ-trung. Ngài
ngửa mặt lên trời cười, làm bài ca "Bảo rằng phạt thì là phạt, bảo rằng
thưởng thì là thưởng". Khi Hưng-đạo-vương băng hà, Trần-quốc-Toản về
Thăng-long chịu tang rồi phải lên đường ngay. Ngài Tuệ-trung biết em mình sẽ đổ
uất ức lên đầu tướng-sĩ, nên ngài rượt theo đến cửa ông, thổi tiêu, giảng giải
thâm ý của cha cho em nghe.
6. Tuổi Nhâm Tý có tài hòa-hợp được những mâu-thuẫn
của nội-tâm. Nội-tâm con người thì phức-tạp, khi ở bên Đông thì muốn hành sự
bên Tây. Khi ở Nam, lòng muốn qua Bắc, không biện biệt được tương-quan
hoàn-cảnh với con người.
Nhờ Can sinh mệnh, nên Nhâm Tý hòa-hợp được hoàn-cảnh
với con người. Đó là điều thiết yếu để thăng bằng giữa ta với người. Khi
nội-tâm Nhâm-Tý nghĩ gì, thì cân nhắc rồi hành-sự. Nhâm-Tý không như một số
tuổi khác, trong tâm biết rõ thế nào là phải, thế nào là trái, thế nào là ưu
liệt cuộc đời. Nhưng chung cuộc thực-hành khác hẳn, thảng hoặc trái ngược, giữa
lời nói và việc làm không đi đôi với nhau : "Hãy nghe theo tôi và đừng làm
theo tôi".
Tuổi Nhâm-Tý không có mâu-thuẫn ấy. "Nghe và làm
theo tôi". Chính vì lý do này, họ thường chinh-phục được mọi người, được
chúng nhân tôn-phục.
6.1. Nhâm-Tý nhờ hòa-hợp được mâu-thuẫn nội-tâm. Họ
hiểu được lẽ biến-hóa, lẽ vô-thường của thế-gian, mà giác ngộ, say mùi đạo. Khi
đã mặc áo nhà tu, ở nhà tu. Họ trở thành những chân tug mẫu-mực, sư-trưởng một
dòng, sáng-lập một chi. Họ là tu sĩ có trái tim từ ái, lặn lội đi xa
hoằng-dương đạo pháp (Chúng tôi chưa có tuổi chính xác của các vị thừa-sai
Thiên-chúa-giáo lặn lội đi xa truyền đạo).
Các vị Bồ-Tát danh tiếng sau đây đều tuổi Nhâm-Tý :
– Ngài Tỳ-ni Đa-l ưu-chi từ Ấn- độ sang Trung-quốc,
rồi đến VN năm 560 (3).
– Ngài Nguyên-Hạnh nhất-sư từ Ấn- độ qua Miến-điện,
Thái-lan, Cao-miên vào Việt-Nam hoằng-dương đạo-pháp (4).
– Ngài Tuệ-Trung Bồ-tát được coi là Yên-tử sáng-tổ,
lập ra thiền phái Trúc-lâm Yên-tử.
Gần đây nhất hòa thượng Chân-Thường, là vị tăng đầu
tiên đến châu Âu độ Phật-tử cũng tuổi Nhâm-Tý. (5)
6.2. Một đặc tính khác của tuổi Nhâm-Tý là thiên nhân
tương dữ, tức trên biết hợp với trời, dưới biết hòa với người. Người xưa giải
thích như sau :
..."Trời là Dương, đất là Âm, nh ờ Âm-d ương
hòa-hợp mà vạn-vật sinh xôi nảy nở. Trong vũ-trụ có ngũ-hành. Vạn-vật do lý
ngũ-hành mà biến-động không ngừng. Năm có bốn mùa, cây cỏ đi theo lẽ tuần hoàn
: Xuân sinh Hạ trưởng, Thu liễm, Đông tàn. Vạn-vật trong vũ-trụ cũng đi theo
luật ấy. Cho nên lý thiên-nhân tương-dữ là những gì giữa biến động vũ-trụ và
con người luôn dính liền nhau" .
6.3. Nhâm-Tý làm việc gì cũng thích hợp với qui-luật
biến động vũ-trụ, cho nên họ đoán trước được các biến chuyển thiên nhiên.
Cổ-nhân mê tín dị đoan, cho rằng họ là những đấng thiêng liêng giáng trần làm
phận-sự. Họ đi đứng, làm việc, chọn chỗ ở, đến cách đối xử, luôn hợp và thuận
với tính thiên nhiên của con người, với qui-luật tạo-hóa.
6.4.Tuổi Nhâm-Tý đại-lượng, rộng rãi, dễ tha thứ. Họ
rộng rãi về tiền bạc, về tính tình, có thì cho người khác. Tính rộng rãi của họ
không phải ai xin cũng được, ai hỏi cũng cho như tuổi Canh-Tý. Nhâm-Tý xét
người nào đáng cho, cho bao nhiêu để có lẽ công-bằng. Ai muốn lợi dụng tính
rộng rãi của Nhâm-Tý rất khó, càng khó qua mặt họ bất cứ điều lớn điều nhỏ.
6.5. Tuổi Nhâm-Tý dễ tha thứ, nhưng dễ tha thứ của
Nhâm-Tý khác với Bính-Tý. Bính-Tý sẽ tha thứ khi người phạm lỗi biết sửa đổi,
hoặc hối hận. Còn Nhâm-Tý chỉ tha thứ khi người phạm lỗi đã sửa đổi. Cho nên
người ta thường nói tuổi Nhâm-Tý khó tính hoặc chặt chẽ. Nhưng không phải thế.
Nhâm-Tý là tuổi điều-hòa vạn-vật, nên khi con người chưa sửa đổi, là chưa hòa
hợp với vạn-vật, thì Nhâm-Tý còn bắt sửa đổi.
7. Tuổi Nhâm-Tý thì Hóa-lộc đóng với Thiên-lương.
Hóa-quyền đóng với Tử-vi. Hóa-khoa đóng với Thiên-phủ. Người có số Tử-vi thuộc
Văn-đoàn (Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương) được Hoá-lộc. Người có cách Đế-tượng (Tử,
Phủ, Vũ, Tướng) thì được Khoa, Quyền. Cho nên dù Văn-đoàn, Đế-tượng Nhâm-Tý
cũng có những loại người xuất chúng. Chỉ có người nào thuộc Võ-cách ( Sát, Phá,
Tham) là không khá. Không khá là so với các cách của Nhâm-Tý. Chứ so với các
tuổi khác, cũng Võ-cách thì Nhâm-Tý vẫn vượt rất xa.
8. Tuổi Nhâm-Tý có nhiều loại người, họ làm nhiều nghề
khác nhau, nhưng họ là những người đa năng.
8.1. Sao chủ tài sản là Lộc-tồn của Nhâm-Tý, đóng ở
cung Hợi, có sắc thái đặc biệt. Lộc-tồn thuộc Thổ, cung Hợi thuộc Thủy, nghĩa
là Lộc-tồn khắc bản cung. Ví như nhà làm trên bãi cát, không vĩnh-cửu, nên trọn
đời họ mất nghiệp (tài-sản) mấy lần. Họ gây tài-sản rất mau. Nhưng mất cũng
mau.
8.2. Thiên-khốc, Thiên-hư đóng tại Ngọ, là hai sao chủ
nghèo-khó thời trẻ, về già mới giàu, áp dụng vào Nhâm-Tý quả đúng. Hồi trẻ, họ
làm ăn khá giả, xụp đổ, rồi xây dựng lại... mấy lần. Phải ra từ 45 tuổi trở đi
mới tạm yên. Thậm chí có một số người trên 60 tuổi còn bôn tẩu. Những người
mệnh lập tại Dần, Ngọ, Tuất thực là vất vả, nghèo khốn trong thủa thiếu thời,
vì sao Khốc, Hư đóng ở mệnh, tài, quan.
9. Tóm lại Nhâm-Tý là tuổi tự biết mình, biết người,
biết sự vật.
– Họ lại có năng khiếu dung hòa mâu-thuẫn trong
nội-tâm.
– Họ hành-sự hợp qui luật biến hóa của vũ-trụ,
ứng-dụng luật để điều hòa vạn-vật.
– Họ đại-lượng, rộng rãi, biết giới-hạn cái lượng hầu
không vô-lý.
– Thủa trẻ họ nghèo khó, lập nghiệp gian nan, mất
nghiệp nhiều lần, khi đứng tuổi mới tạm yên.
– Muốn lôi kéo tuổi Nhâm-Tý cần biết tôn-trọng
qui-luật thiên-nhiên của trời đất, của Nhâm-Tý đặt ra.
– Phụ-nữ Nhâm-Tý thường có chí-khí như nam-nhi. Thời
hoa-xuân họ có cử-chỉ như con trai, mất tính chất dịu dàng của phụ-nữ. Nhưng
đổi lại họ đầy năng-lực, thích làm việc.