Thứ Tư, 3 tháng 4, 2013

TUỔI NHÂM TÝ PHẦN 8


TUỔI NHÂM TÝ
Mệnh Tang Đố Mộc (Gỗ cây dâu)
Sinh từ :
19 tháng 3 năm 1912 đến 8 tháng 3 năm 1913
15 tháng 2 năm 1972 đến 30 tháng 4 năm 1973

 Học Phong Thủy

X. VẬN HẠN TUỔI NHÂM TÝ
1. Vận hạn theo tháng
1.1. Tháng 1, 2 thuộc mộc, chi Tý thuộc thủy, can Nhâm thuộc thủy, bổn mệnh thuộc mộc, như vậy hai mộc được Can, Chi sinh ra. Tháng 1, 2 bao giờ cũng là những tháng phát tài của tuổi. Tháng 1 gặp hạn "hao", nhưng được cả Tuần lẫn Triệt án ngữ, nên không ngại.
1.2. Tháng 3, 6, 9, 12 là tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thuộc thổ. Can, Chi thuộc thủy bị khắc, nhưng bản mệnh thuộc mộc, gặp thổ rất tốt. Những tháng này nên mưu sự, kiến cơ lập nghiệp dễ thành công.
1.3. Tháng 4, 5 thuộc hỏa, mộc sinh hỏa. Những tháng này về tiền bạc, công danh khá, nhưng cẩn thận nếu không bệnh tật sinh ra. Hoả vượng, tính tình dễ sinh nóng nảy, gắt gỏng, cần tự chế để khỏi hư việc.
1.4. Tháng 7, 8 thuộc kim khắc bản mệnh thuộc mộc, hay có bệnh, làm ăn không được đạt như ý.
1.5. Tháng 10, 11, thuộc thủy. Thủy sinh mộc, làm ăn thịnh đạt, nhất là tháng 10 gặp hạn Lộc-tồn.
2. Vận hạn theo đại tiểu hạn
2.1. Đại hạn đến cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, hoặc tiểu hạn năm Tý,,Ngọ, Mão, Dậu. Cả nam lẫn nữ, tiểu hạn qua Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Đó là những cung thổ, bản mệnh thuộc mộc được nuôi dưỡng, bệnh tật, tai ương giảm, làm ăn thịnh vượng, gia đạo yên vui. Nếu được cát tinh càng thêm tốt, nếu ngộ hung tin cũng không đáng sợ. Trừ những người nhập hạn cung Thìn, Tuất mà sinh tháng 2, 8. Người nhập đại hạn cung Sửu, Mùi, sinh tháng 5, 11 sẽ đáo tụng đình, hoặc bệnh tật.
2.2. Đại hạn qua cung Mão, nam mạng năm Tý, nữ mạng năm Mùi qua cung Mão đều ngộ cả Tuần lẫn Triệt. Không sợ tai ương, nhưng không nên mưu đồ đại sự.
2.3. Đại hạn qua cung Tỵ, nam mạng tiểu hạn năm Mùi, nữ mạng tiểu hạn năm Tý đều đến cung Tỵ. Cung Tỵ thuộc hỏa, bản mệnh thuộc mộc, phải cẩn thận điều tiếng, bệnh hoạn, cần phải tự chế, để khỏi mất lòng mọi người. Người sinh tháng 1, 9 ắt kiện cảo khó tránh.
2.4. Đại hạn tới cung Dậu, hoặc nam mạng tiểu hạn năm Hợi, nữ mạng tiểu hạn năm Sửu tiểu hạn qua cung Dậu thuộc kim. Kim khắc bổn mạng thuộc mộc. Coi chừng bệnh phổi, bệnh thần kinh, mọi sự bế tắc. Người sinh tháng 1, 7 phải nói rằng bị mổ xả, kiện cáo, đau yếu.
2.5. Đại hạn tới cung Hợi, nam mạng tiểu hạn năm Sửu, nữ mạng tiểu hạn năm Hợi tiểu hạn qua cung Hợi thuộc thủy. Thủy sinh bổn mạng thuộc mộc, mọi sự tốt đẹp, nhất là gặp hạn Lộc-tồn, tiền bạc, sức khỏe đều thuận lợi. Trừ người sinh tháng 3, 9 e bị lừa tiền bạc, đau yếu, kiện cáo.
3. Phải nhớ tính chất đặc thù của tuổi Tý là Khi đại tiểu hạn qua cung Dần-Thân, hay Tý-Ngọ rất xấu. Cái cách độc hại nhất là đại-tiểu hạn tương xung ở Dần-Thân hoặc Tý-Ngọ. Có sao tốt tọa thủ ở trong thì cũng nghiêng ngửa, chẳng may sát tinh tọa thủ cả hai nơi, phải nói rằng đó là hạn chết.
Tử-vi kinh nói :
Nhân sinh Tý mệnh kị Dần, Thân.
Nghĩa là tuổi Tý kị hạn tới cung Dần, Thân.
Lại cũng nói :
Tý, Ngọ bất nghi đáo bản thân.
Nghĩa là tuổi Tý, Ngọ khi hạn đến cung Tý, Ngọ rất độc.
Vậy khi đại hạn đến Tý, Ngọ, Dần, Thân là xấu. Còn tiểu hạn các năm Thìn, Tuất, Dần, Thân qua cung Tý, Ngọ, Dần, Thân cũng xấu.
4. Như trong phần đầu, chúng tôi nói : Âm-d ương, Ngũ-hành là cái dây lớn của lưới cá, chỉ dùng làm đại lược, còn tùy theo từng lá số, tùy theo sao tọa thủ từng cung. Nếu theo Âm-d ương, Ngũ-hành mà tốt, thì dù gặp sao tọa thủ xấu cũng không đáng sợ. Còn khi sao tọa thủ tốt, mà Âm-d ương, Ngũ-hành xấu, xấu được giảm đi.

 Học Phong Thủy


XI. KẾT LUẬN
1. Nhâm-Tý là một tuổi nhiều dương tính trong 5 tuổi Tý. Quan niệm Á-châu cho rằng nam hoạt động ngoài xã-hội, nữ nên hoạt động tại nhà (Nam tại ngoại, nữ tại nội) nên mới có câu : "Nam Nhâm, nữ Quí". Với quan niệm đó, nữ mệnh tuổi Nhâm-Tý thường bị xã hội nhìn bằng con mắt khắt khe, bởi có cử chỉ, hành động như nam giới.
2. Ngày nay xã hội đã biến đổi, nam hay nữ Nhâm đều quí cả : Họ hăng hái hoạt động, tính tình cương trực, can đảm.
3. Tuổi Nhâm-Tý mệnh Tang-đố-mộc, chi thuộc thủy, can cũng thuộc thủy, sinh ra bản mệnh, nên cuộc đời đầy thuận lợi cho họ. Cứ mỗi biến cố xấu, họ lại vượt lên trên đời một bậc.
4. Họ biết mình, biết người, hòa hợp được những mâu thuẫn nội tâm.
5. Về tình duyên, họ cũng hấp dẫn người khác phái. Họ chủ động trong tình yêu, ít gặp những éo le trong tình trường. Nữ mạng Nhâm-Tý rất mạnh về phương diện tình dục. Người chồng, người yêu phải hiểu họ, họ không phải là " Bà chằng tinh " như những thầy Tử-vi tay mơ gán cho họ.
6. Người cộng tác của Nhâm-Tý phải hiểu rằng bản tính nhìn mọi người. Đối xử với mọi người như nhau là thiên tính của họ, không thể bắt họ thay đổi được. Chính tính này, họ không có người thân tín, không có những kẻ sống chết với họ.

 Học Phong Thủy


TUỔI NHÂM TÝ PHẦN 7


TUỔI NHÂM TÝ
Mệnh Tang Đố Mộc (Gỗ cây dâu)
Sinh từ :
19 tháng 3 năm 1912 đến 8 tháng 3 năm 1913
15 tháng 2 năm 1972 đến 30 tháng 4 năm 1973

 Học Phong Thủy

IX. BỆNH TẬT TUỔI NHÂM TÝ
1. Tuổi Nhâm-Tý mạng mộc, trong học thuyết Âm-D ương, Ngũ-hành liên hợp với :
Ngũ-khí : Phong.
Ngũ-hoá : Sinh.
Tạng-phủ : Can, đởm. Liên hợp với túc Thiếu-dương đởm kinh và túc Khuyết-âm can-kinh.
Ngũ quan : Mắt.
Hình thể : Gan.
2. Bản mệnh là con người, con người Nhâm-Tý thuộc mộc. Được Can Nhâm thuộc thủy, Chi Tý thuộc thủy, sinh ra bản mệnh. Tuổi Nhâm-Tý cung Dần, Mão thuộc mộc, gặp cả Tuần, lẫn Triệt, nên dù Can, Chi sinh ra bản mệnh cũng không tránh được tai ương, bệnh tật.
3. Về phương diện y-học thì can và đởm là hai tạng phủ tương thông biểu lý. Can thuộc Âm thu ộc tạng, Đởm thuộc dương thuộc phủ. Can thuộc lý thuộc bên trong, đởm thuộc biểu thuộc bên ngoài. Khi bệnh cập can thì ảnh hưởng đởm và ngược lại.
4. Về phương diện sinh lý thì can chủ về sơ tiết :
Sơ tức là thông, tiết tức là tiến tới.
Như vậy có hai loại bệnh, một là bệnh thần chí và hai là bệnh về đường tiêu hoá :
4.1. Về vấn đề tình chí.
– Sự hoạt động của tình chí, do thần biểu hiện ra ngoài. Vậy thần tức là tinh khí hiện ra ngoài của cơ thể, quan sát thần thì biết tinh khí thịnh, suy. Thần của con người theo y học Á-châu là do tâm can. Các hoạt động tinh thần thuộc vào sự sơ tiết thông đều của can.
– Khi công năng của can chính thường, thì khí cơ thông sướng, khí huyết sung doanh, tâm thần thư thái.
– Nếu công năng của can bất thường khiến tình chí biến hoá, sinh ra nóng nảy, dễ giận, dễ hờn, dễ gắt gỏng.
– Khi can khí bị kết lại, thì :
Mạn sườn căng trướng.
Uất ức, hay lo nghĩ, nặng thì lúc nào cũng muốn khóc, làm việc gì cũng muốn mau.
Đầu nhức, căng trướng.
Lồng ngực đầy, chóng mặt.
– Ngược lại khi tinh thần bị kích thích, giận hờn, uất ức chồng chất, dồn ép quá độ, nếu không tiêu giải được sẽ xuất hiện tình trạng can khí bị kết, khí cơ không điều sướng. Vậy bệnh can đưa tới bệnh thần chí và ngược lại bệnh thần chí cũng đưa tới bệnh can.
4.2. Về phương diện tiêu hóa.
Công năng của can là hiệp điều với tỳ vị để tiêu hoá thực vật. Khi công năng của can bất thường, kéo theo tỳ vị bất thường. Việc tiêu hoá thực vật hổn loạn. Ẩm, th ực là gốc hậu thiên khí. Ăn uống thực vật béo bổ đến đâu chăng nữa, mà tiêu hóa bị hỗn loạn thì hậu thiên khí cũng bị hỗn loạn. Vậy khi công năng của can hỗn loạn, đưa đến các chứng :
– Huyết ô.
– Đại tiện chảy, hoặc kết bón, v.v...
4.3. Can chủ tàng huyết
Công năng của can là tàng chứa huyết dịch, điều hòa lượng huyết. Khi can có bệnh, công năng tàng huyết thất thường, ảnh hưởng đến hoạt động nhân thể, đồng thời sinh bệnh huyết dịch. Can huyết bất túc, thì hai mắt nhìn vật mơ hồ, các móng chân tay bất lợi, phụ nữ kinh nguyệt ít, nặng thì bế kinh, khi can khí thượng nghịch, đưa đến thổ huyết, xuất huyết, phụ nữ tử cung xuất huyết, hoặc lồng ngực căng đau, thống kinh, bế kinh hay tuyệt kinh.

 Học Phong Thủy


5. Can chủ gân. Hoa của gan là móng chân tay : Gân, móng, sụn là do can huyết nuôi dưỡng. Công năng của gan chính thường, gân-móng thọ lãnh huyết dịch, cơ thể khang kiện. Khi gan huyết bất túc, huyết không nuôi dưỡng được gân-móng, đưa đến chân tay run rẫy, tê dại, móng chân tay bất lợi, hàm răng mỏi mệt hoặc cắn chặt không mở ra được.
6. Gan khai cùng ở mắt.
Quan của gan là mắt. Khi gan có bệnh, thì ảnh hưởng tới mắt.
7. Những người mạng mộc, bản chất bệnh thường do gốc ở gan. Bệnh gan sinh ra thường thấy :
7.1. Gan khí kết đóng
– Tinh thần thất thường, dễ nổi giận.
– Lồng ngực căng.
– Thích thở dài.
– Bụng dưới căng đau.
– Đau bụng kinh.
– Kinh nguyệt không đều.
– Hoặc trong cổ hầu như mắc nghẹn, nuốt không xuông.
7.2. Gan hỏa bốc lên
– Nhức đầu.
– Chóng mặt.
– Tai kêu.
– Mặt đỏ, mắt đỏ.
– Hầu khô đau.
– Nóng nảy, dễ nổi giận.
– Mất ngủ, hoặc ác mộng.
– Thổ huyết, tiện huyết.
– Các chứng huyết áp cao (Hypertention artérielle) 95% do can hỏa.
7.3. Gan huyết bất túc
– Sắc mặt trắng bệch.
– Chóng mặt, mộng nhiều.
– Tai kêu, mắt khô.
– Nhìn vật mơ hồ, hoặc chân tay tê dại, hoặc gân mạch co rút.
– Móng chân tay không tươi.
– Phụ nữ kinh ít, hoặc tuyệt kinh.
7.4. Gan dương thượng thăng
– Chóng mặt, tai kêu.
– Đầu nhức căng trướng.
– Mặt đỏ, mắt đỏ.
– Dễ nổi giận, mất ngủ mộng nhiều, mất trí nhớ hay sợ sệt, đau lưng.
7.5 Gan phong nội động
– Chóng mặt ngã ra.
– Đầu nhức như búa bổ.
– Chân tay co giật.
– Ngôn ngữ bất lợi.
– Đôi khi hôn mê, lưỡi cứng, miệng méo, mắt trợn ngược bán thân bất toại.
8. Đại loại những người mạng mộc thường sinh các chứng trạng trên, đó là những chứng bệnh căn bản. Còn những bệnh do vi trùng, là bệnh thời khí, phải căn cứ vào vận hạn mới biết.

 Học Phong Thủy


TUỔI NHÂM TÝ PHẦN 6


TUỔI NHÂM TÝ
Mệnh Tang Đố Mộc (Gỗ cây dâu)
Sinh từ :
19 tháng 3 năm 1912 đến 8 tháng 3 năm 1913
15 tháng 2 năm 1972 đến 30 tháng 4 năm 1973

 Học Phong Thủy


VII. XE CỘ, Y PHỤC
1. Tuổi Nhâm-Tý Thiên-mã đóng tại Dần.
Thiên-mã là năng lực cuộc đời, hóa hình là chiếc xe. Thiên-mã ngộ cả Tuần, lẫn Triệt thì Nhâm-Tý không may mắn về xe cộ. Trong cuộc đời, họ ít có dịp mua xe, hay không thích mua xe, dù họ giàu có. Dù họ mua xe, xe hay bị hỏng, bị tai nạn. Họ lái xe cẩn thận đến đâu, trong đời cũng bị tai nạn đến phải vứt xe đi một hai lần bởi Mã ngộ Hao, Hỏa, Tang và ngộ cả Tuần lẫn Triệt.
1.1. Nhất là những năm Thân, Tý, Thìn, lưu mã gặp Mã cố định ở Dần, thì gặp tai nạn xe cộ là điều đương nhiên.
1.2. Nhâm-Tý mạng mộc thuộc màu xanh, vậy đi xe màu gì để đỡ tai nạn ? Để làm ăn phát đạt ?
Sau đây xin dẫn chứng một truyện :
Có ông giám đốc văn phòng bảo hiểm ở Pháp. Nhân dịp cuối thập niên 70, ông hỏi máy điện toán xem những người sinh năm nào bị nhiều tai nạn nhất ? Thì ông tìm thấy trong 10 năm, có 12 khách hàng sinh năm 1912, năm nào cũng bị tai nạn từ 2 đến 7.
Tò mò ông cứu xét lại hồ sơ, thấy rằng hầu hết những tai nạn đó không do thân chủ ông gây ra mà do phía đối nghịch. Ông cho mời cả 12 khách hàng xấu số lại hỏi thăm từng chi tiết tai nạn. Sau đó ông nghiệm ra rằng họ bị tai nạn trong những trường hợp lãng xẹt.
Người nào cũng công nhận trong đời họ luôn luôn bị tai nạn xe cộ, dù đã cẩn thận. Ông đem chuyện này hỏi tôi.
Tôi trình bày cho ông biết về số Tử-vi, họ tuổi Nhâm-Tý, và những năm có trên hai tai nạn đều thuộc năm Thân, Tý, Thìn. Năm nay (1980) là năm Canh-Thân dù lái xe cẩn thận đến đâu họ cũng bị tai nạn.
Hai trong 12 ông không tin. Một để xe ở pac-king không lái, một để ở ga-ra. Cuối năm, ông giám đốc hảng bảo hiểm công nhận khoa Tử-vi đúng. Vì ông khách để xe ở parking không hiểu bị kẻ vô danh nào đụng móp hết phần đầu, không tìm ra thủ phạm. Còn ông để xe ở ga-ra, thì đứa cháu của ông nghịch ngợm, mở công tắc rồ máy, xe húc đổ tường nhà, mui xe bẹp.
2. Tuổi Nhâm-Tý nên đi xe màu gì để làm ăn thịnh vượng, tránh khỏi tai nạn.
2.1. Màu vàng. Thuộc thổ, Nhâm-Tý mạng mộc, mộc khắc thổ, tức là bổn mạng khắc chiếc xe, xe thường bị tai nạn do chính bản thân gây ra. Dù giữ gìn đến đâu chăng nữa cũng vẫn bị tai nạn, hoặc ít ra xe hay hỏng máy, trầy sơn.
2.2. Màu trắng. Thuộc kim, kim khắc mộc. Nhâm-Tý thuộc mộc, bổn mạng bị chiếc xe khắc. Mọi việc làm ăn bế tắc, bổn mạng có thể bị thương, chết vì tai nạn xe cộ.
2.3. Màu đen. Thuộc thủy, thủy sinh mộc, Nhâm-Tý thuộc mạng mộc, bổn mạng được chiếc xe sinh ra. Xe là năng lực cuộc đời, Nhâm-Tý nên đi xe màu đen sức khỏe tăng tiến, làm ăn thịnh vượng, xe cộ ít tai nạn.
2..4. Màu xanh. Thuộc mộc. Nhâm-Tý mạng mộc, tương hợp với màu của xe, ít tai nạn, sức khỏe bảo toàn, làm ăn hanh thông.
2.5. Màu đỏ : Thuộc hỏa. Nhâm-Tý mạng mộc, mộc sinh hỏa, bổn mạng sinh ra chiếc xe, bị chiếc xe hút hết năng lực, khả năng bị khô kiệt, dễ tai nạn, nguy hiểm cho sức khỏe.
5. Mầu sắc đồ dùng, quần áo.
Cũng như màu xe.

 Học Phong Thủy


VIII. NHÀ TUỔI NHÂM TÝ
1. Tý thuộc phương Bắc, Nhâm cũng thuộc phương Bắc. Mệnh thuộc mộc thuộc phương Đông. Vậy ở nhà hướng nào thuận lợi cho bản thân, cho vợ con ?
2. Thứ nhất nhà hướng Tây. Thuộc kim, kim khắc mộc. Nhâm-Tý mạng mộc bị hướng nhà khắc, nguy hại cho sức khỏe bản thân, vợ con. Làm ăn bế tắc.
3. Thứ nhì nhà hướng Bắc. Thuộc thủy, thủy sinh mộc. Nhâm-Tý mạng thủy được hướng nhà sinh ra bổn mạng, nhất là Nhâm thuộc thủy, Tý cũng thuộc thủy, như vậy Nhâm-Tý ở nhà hướng Bắc tốt cả cho công ăn việc làm, cho sức khỏe bổn mạng và vợ con.
4. Thứ ba nhà hướng Đông. Thuộc mộc, Nhâm-Tý mạng mộc, nhà và bổn mệnh cùng một hành lợi công danh, sức khỏe của bổn mạng, nhưng trong nhà hay lục đục vặt.
5. Thứ tư hướng Nam. Thuộc hỏa, mộc sinh hỏa. Nhâm-Tý mạng mộc, sinh ra bổn mạng ngôi nhà. Tối độc, năng lực bị mất, bệnh hoạn liên miên.

 Học Phong Thủy



Thứ Ba, 26 tháng 3, 2013

TUỔI NHÂM TÝ PHẦN 5



TUỔI NHÂM TÝ
Mệnh Tang Đố Mộc (Gỗ cây dâu)
Sinh từ :
19 tháng 3 năm 1912 đến 8 tháng 3 năm 1913
15 tháng 2 năm 1972 đến 30 tháng 4 năm 1973

 Học Phong Thủy


VI. NGƯỜI CỘNG TÁC
1. Trước khi nói đến người cộng-tác, cần phải nhắc lại bản tính của Nhâm-Tý :    
1.1. Mỗi biến cố đều thuận lợi.
1.2. Nhìn xa thấy rộng, biết mình, hòa hợp được mâu thuẫn nội tâm.
1.3. Trên hợp với trời, dưới hợp với vạn vật.
1.4. Đại-lượng, rộng rãi, biết giới hạn đại lượng.
1.5.. Đa tài, đa năng.
2. Nhâm-Tý là người trông rộng, nhìn xa, nên việc đối xử với người cộng tác nằm trong một trạng thái có tính chất đặc biệt. Dù người trên, người dưới hoặc ngang hàng, họ cũng đối xử bằng cung cách lấy thâm tình làm trọng. Họ nhìn mọi người dưới một khía cạnh giống nhau, bình đẳng. Họ là người có thiện tâm, nên không ghen ghét với ai. Có những tuổi Nhâm-Tý phát biểu ý tưởng khắt khe trong nhiều lãnh vực, kẻ nông cạn tưởng rằng họ ganh tỵ. Nhưng xét kỹ thì không phải thế. Họ phê phán người dưới khía cạnh đạo lý tôn-giáo. Tuổi Nhâm-Tý trọng đạo đức, trọng nguyên tắc, luật lệ tiền nhân đặt ra. Nên họ muốn những người khác cũng phải đạo đức như họ, phải tuân theo luân lý thánh thiện. Tuy họ khắt khe, nhưng nếu người xung quanh đã hối lỗi, họ lại khuyến khích, khen ngợi ngay. Thông thường khi gặp những người không đồng quan điểm, không đồng luân lý, họ khéo léo dẫn giải đi vào đường chính.
Những tuổi Nhâm-Tý đi tu, thường nổi tiếng về tài thuyết giảng đạo lý, giác ngộ được chúng sinh, và họ nổi tiếng. Họ đại lượng, nên rộng rãi với mọi người, họ cho mà không tiếc. Họ biết giới hạn đại lượng, nên họ chỉ cho hợp lý, chứ không dễ dãi với bất cứ ai, nhất là họ không bị lợi dụng.
3. Khuyết điểm lớn của Nhâm-Tý là nhìn mọi người dưới cùng một giá trị, thành ra họ hay lâm cảnh : Người trung, người ngay bị xếp hàng ngang với kẻ nịnh, kẻ gian. Đôi khi họ bị kẻ nịnh, kẻ gian dùng lời dèm pha, khiến cho những người hết tâm, hết mình với họ, tiến tới chống đối họ.
3.1. Loại người trên.
Gồm có thầy, cấp trên, chủ nhân. Nhâm-Tý là người có tính ngay thẳng, hiếu thuận. Nên người trên Nhâm-Tý có thể tin vào lòng trung thành của họ. Hầu như tuổi Nhâm-Tý đều là người trung thành. Trừ một ít người sinh tháng 10 gặp cách mệnh Không thân Kiếp, thì họ có tính gian xảo, ích kỷ.
Thủa thiếu thời, họ là người lanh lợi, hoạt động, nên được thầy dạy học yêu thương. Họ thường được cử làm trưởng lớp, đại-diện trường. Nhưng cá tính nhìn mọi người cùng một khía cạnh, họ vẫn không được thầy yêu thương tuyệt đối. Họ thông minh, thu nhận kiến thức dễ dàng nhưng họ thiếu chuyên cần, nên ít khi đứng đầu lớp.
Khi làm việc, họ thận trọng, tỷ-mỷ, nên chủ nhân, cấp trên tin cẩn, tin tưởng. Do cá tính đặc biệt của họ, nhìn ai cũng cùng một góc cạnh, khiến người trên ban ơn cho họ cảm thấy không được đối đáp lại. Họ mất sủng ái. Họ lại thiếu cương quyết, đôi khi lâm vào cảnh nhẹ dạ, dễ tin người. Khi người trên lợi dụng họ, họ không biết.
Khi gặp người trên thương yêu họ, họ không biết đối xử đặc biệt nên không được người trên nâng đỡ. Họ hay gặp trở ngại công danh : Họ được cấp trên tin-tưởng, trao phó nhiệm vụ, với ý tưởng rằng sẽ kết hợp được một khối thân tín, mưu đại sự. Nhưng đối lại, họ cũng nhìn người ban ơn như mọi người, thành ra mất tin tưởng, rồi đi đến đổ vỡ. Họ bị người trên ghét bỏ, đi đến cách chức. Dù làm nghề tự-do, dù làm việc tư, việc công, dù đi tu thế nào họ cũng bị mất chức, mất nghiệp vài lần. Làm việc công họ bị cách chức. Đó là điều không thể tránh.
3.2. Loại ngang hàng
Nhâm-Tý là tuổi đa tài đa năng, họ học đâu hiểu đó. Nếu họ cố gắng họ trở thành người sáng chói hơn các bạn. Họ thuộc cách Văn đàn thì tính tình nhu hòa, được bạn bè kính nể. Họ thuộc Võ-cách thường kiêu căng tự phụ. Họ thuộc Đế-tượng thì vượt xa bạn hữu.
Họ biết nhiều hiểu nhiều, tính ngay thẳng, họ không biết tự chế, nên thường coi đồng nghiệp, bạn hữu bằng nửa con mắt. Đôi khi họ tự phụ, thành ra bạn hữu ít ưa họ. Họ bị đố kị từ nhiều phía. Họ nhận định sự vật rất sâu sắc, và phát biểu ý kiến. Nhưng có ai hiểu họ đâu, người ta còn cho rằng họ bảo thủ, cố-chấp, rồi bài bác họ, thực tội nghiệp.
Họ trung thành, ngay thẳng với bạn hữu. Bạn hữu của Nhâm-Tý có thể tin tưởng tuyệt đối rằng họ không bao giờ, phản bạn, hại bạn, lấy ơn làm oán. Chính bản tính họ cũng ghét những người phản phúc. Chơi với bạn họ ngay thẳng sẵn sàng giúp đỡ, bạn hữu gặp tai vạ, họ xã thân lo liệu như chính họ lo cho họ vậy. Nhưng ngược lại bạn hữu của họ lại ít trung thành với họ, bởi vì tính tự đắc.
Nhâm-Tý tự đắc, nên thường bạn hữu không ưa, hay phản phúc. Nhưng họ vẫn nhiều bạn, vì tính họ ngay thẳng, hay giúp người. Có một phương pháp rất hay có thể giải các ách phản phúc là họ chế bớt tính tự đắc lại. Những người theo Nho-giáo, Phật-giáo thì dùng triết lý của tôn giáo này, chế được tính tự đắc, cải thiện được những khó khăn.
Khía cạnh đặc biệt khiến họ bị phản phúc là cái tính thánh thiện của họ. Khi bị một người đó phản phúc, lừa dối gây cho họ đau khổ, nhục nhã, ít lâu sau kẻ ác trở lại phỉnh gạt, họ cũng tha thứ, để rồi bị phản nữa. Có thể nói họ không biết thù oán, đôi khi thành nhẹ dạ, hay nói theo cách khác là thiếu minh mẫn. Nhiều người ngay thẳng không muốn phản bội họ nhưng thấy người khác phản bội được tha thứ, trong lòng dễ nảy sinh ý tưởng bất thiện.
Một lẽ khác Nhâm-Tý nhẹ dạ, dễ tin người, nên xung quanh họ đầy những bộ mặt nịnh hót, phản phúc, chính bọn này dèm pha, làm cho Nhâm-Tý xa lánh người thân, và những bạn hữu trung thành. Thế rồi khi họ gặp tai nạn, bọn đua nịnh theo đóm ăn tàn hợp tác với kẻ thù quay lại phản họ. Bấy giờ họ mới hối hận thì đã trễ. Họ sinh nghi ngờ, yếm thế, cho rằng nhân tình thế thái phản trắc. Chứ sự thực ở đâu chẳng có người tốt. Khổng-Tử nói rằng : Trong một ấp mười nhà, tất có người trung tín. Người trung tín đến với họ, họ nghe lời nịnh, xa lánh. Còn dua nịnh thì tin dùng. Nhâm-Tý bị đổ vỡ sự nghiệp vì lẽ đó.
Tuổi Nhâm-Tý cần biết phân biệt người, ai làm lỗi cho mình, ai đến với mình không cần lợi lộc, ai muốn mượn mình để mưu đồ, thì họ sẽ thành công. Nhưng nói là một truyện, thực tế là một truyện khác.
Đại lược tuổi Nhâm-Tý đã được một Tử-vi-gia danh tiếng là Lê-quí-Đôn phê bình như sau :
"Không nghe lời trung,
Xa lánh người hiền.
Huyết tộc là cựu thù,
Kẻ ác là chân tay".
Sau đây là một dẫn chứng trong lịch sử Việt-Nam vào cuối thế kỷ thứ 14. Một vị hoàng đế cuối đời Trần là Nghệ-Tông (1370-1372), theo lệ tổ tiên ông nhường ngôi vua cho cháu, lên làm thái-thượng-hoàng. Ông l à người có tính nhẹ dạ, không minh mẫn. Bấy giờ trong triều có gian thần Hồ-quí-Ly mưu đồ cướp ngôi vua. Vua Trần Phế-đế muốn trừ đi. Hồ-quí-Ly nịnh hót khiến Nghệ-Tông dùng quyền Thái-thượng-hoàng phế ngôi cháu, rồi giết đi. Trong lịch sử cổ kim Á-châu, chỉ có vua giết công thần, chứ chưa bao giờ có truyện vua định trừ gian thần, Thái-thượng-hoàng vì gian thần mà giết vua. Nghệ-Tông nhẹ dạ, nghe kẻ nịnh, coi như ruột gan, còn con cháu bị coi như cừu thù. Khi lớn tuổi, ông khám phá ra mưu đồ của Hồ-quí-Ly thì đã trễ. Nghệ-Tông tuổi Nhâm-Tý.
3.3. Loại người dưới
Tức là thuộc hạ, con cháu, khách hàng, đệ tử.
Nhâm-Tý có lòng từ ái, yêu thương người dưới, đặt tin tưởng vào người dưới giống như Bính-Tý. Nhưng Bính-Tý là tuổi minh-mẫn, biết dung hòa những mâu thuẫn của những người cộng-tác, biết phân biệt kẻ trung người nịnh, nhìn thấu tâm can người cộng-tác. Còn Nhâm-Tý thì khác, họ chỉ có lòng từ bi hỉ xả. Họ dễ dãi, giúp đỡ mọi người. Nhưng họ nhìn mọi người đều giống nhau, đối xử, thưởng phạt do đó không công bằng. Người có công, cũng được đãi ngộ như người không công. Kẻ ác cũng được hưởng như người hiền. Do vậy những người dưới của Nhâm-Tý thường ganh tỵ chống đối nhau. Người có tài, có đức thì bị xa lánh, bạc đãi. Bọn bất tài thì tìm cách nịnh hót để được sủng ái, tìm cách hại người trung. Đó là mối tương tranh của người dưới Nhâm-Tý.
Tuổi Nhâm-Tý dạy học cũng nhiều, họ thương yêu học trò, hết lòng với học trò như con cái họ. Nếu họ là nhà tu, đệ tử của họ nhận được tình thương bao la của họ. Họ hết lòng dẫn dắt đệ tử đi vào đường luân lý cao đẹp của tôn giáo. Họ là giáo-sư, nhà tu thì không có gì khó khăn cả. Họ có thể đối xử với học trò, đệ tử bằng nhau. Nếu có ai đặt vấn đề tại sao đứa bất hạnh được đối xử như người đạo đức. Họ trả lời dễ dàng rằng : Đứa bất hạnh cần phải thương nó nhiều, giải thoát nó khỏi ma nghiệp nhiều hơn.
Nhưng nếu họ ở địa vị lãnh đạo, làm việc ngoài đời thì khác. Ngoài đời có thù, bạn, có đãi ngộ khác nhau. Tốt khen, hư phạt, mà họ đối xử như nhau, lại trở thành bất công.
Dù họ là nhà tu, nhà giáo, nhưng ở địa vị phải lãnh đạo, họ cũng gặp khó khăn như những người lãnh đạo trần tục về cung cách đối xử. Cho nên họ hay nghi ngờ : Tại sao họ đối xử với người hết tâm hết ý mà vẫn bị người phản phúc. Họ không tự biết mình rằng họ hết tâm, hết ý nhưng họ không phân biệt được những loại người, không chia loại người ra đối xử. Họ bị những kẻ tiểu nhân dèm xiểm người lành. Người lành quay mặt đi với sự khinh ghét của họ, đôi khi thành kẻ thù. Kẻ tiểu nhân lợi dụng xong, trở mặt với họ. Họ gặp nhiều khổ tâm là thế.

 Học Phong Thủy


4. Nhâm-Tý nên chọn loại người nào để cộng-tác ?
4.1. Mạng Thổ. Mộc khắc thổ, Nhâm-Tý mạng mộc, khắc mạng người cộng-tác. Người cộng-tác nên là học trò, đệ tử, cấp dưới, Nhâm-Tý dễ dàng thu phục họ đưa họ vào quỹ đạo hoạt động của mình. Với người dưới, đệ tử, học trò, mạng thổ Nhâm-Tý được họ qui phục. Nhưng cần phải chú ý, đừng để tiểu nhân dèm pha, hại người có lòng với mình. Người trên của Nhâm-Tý mạng thổ sẽ đi đến thượng hạ bất hòa, tan vỡ. Nếu là loại ngang hàng sẽ đố kị lẫn nhau.
4.2. Mạng Kim. Kim khắc mộc, Nhâm-Tý mạng mộc, bị người cộng-tác khắc. Người cộng-tác nên là thầy cấp trên, sẽ được Nhâm-Tý tuân phục. Nhâm-Tý vốn tính trung hậu, sẽ trung thành, phục tùng tuyệt đối. Người ngang hàng thì hai bên sẽ xảy ra tương tranh. Người dưới e có hiện tượng dưới lấn quyền trên, rồi đi đến lật đổ. Nhâm-Tý thường bị loại người dưới mạng kim lật đổ ít nhất một lần trong đời.
4.3. Mạng Thủy. Thủy sinh mộc. Nhâm-Tý thuộc mộc. Mạng Nhâm-Tý sinh ra mạng người cộng-tác. Người cộng-tác dù là trên, ngang, dưới, đều tốt đẹp cả.
4.4. Mạng Mộc. Nhâm-Tý cũng mạng mộc, tức đồng mạng. Dù người cộng-tác là vai trên, ngang, dưới, đều hứa hẹn tốt đẹp.
4.5. Mạng Hỏa. Mộc sinh hỏa, Nhâm-Tý mạng mộc. Nhâm-Tý sinh ra mạng người cộng-tác. Nhâm-Tý vốn tính t<185> ái, bao dung, nên người cộng-tác mạng hỏa sẽ được hưởng tất cả những gì tốt đẹp của họ.
5. Nhâm-Tý là tuổi nhìn xa thấy rộng, biết hòa hợp giữa người với thiên nhiên, mọi biến cố xảy ra đều thuận lợi cho họ. Nhưng có điều họ là người công bằng quá, đi đến chỗ không phân biệt được kẻ trung, người nịnh. Mà dù có phân biệt được, họ cũng có thái độ cư xử giống nhau.
Trong tôn giáo, thái độ này thực là cao đẹp. Nhưng ngoài đời thực nguy hiểm, họ thiếu người trung thành. Khi vui, ồn ào đông đủ. Khi cần việc, chẳng có ai, họ cảm thấy cô độc.
Tuổi Nhâm-Tý thường bị ngộ nhận là coi người thân như cừu thù, coi kẻ ác như chân tay bởi lẽ đó. Họ cần có một người tinh tế, mẫn tiệp như Bính-Tý bên cạnh, rồi đặt tin tưởng vào người này, để là cái gương phản ảnh cho họ trong cuộc đời. Đời họ thế nào cũng bị người dưới lật đổ, làm hại. Tuổi này không nên làm chính trị, bởi họ sẽ bị thất bại do người cộng-tác gây ra.

 Học Phong Thủy


TUỔI NHÂM TÝ PHẦN 4



TUỔI NHÂM TÝ
Mệnh Tang Đố Mộc (Gỗ cây dâu)
Sinh từ :
19 tháng 3 năm 1912 đến 8 tháng 3 năm 1913
15 tháng 2 năm 1972 đến 30 tháng 4 năm 1973

 Học Phong Thủy


V. DUYÊN TÌNH NỮ NHÂM TÝ
1. Duyên tình nữ mạng Nhâm-Tý ngoài những tính chất chung của tuổi, còn khá nhiều dị biệt với Nam mạng.
1.1. Đào-hoa, Thiên-hỉ, Thanh-long đồng cung. Tuy Đào-hoa bị bản cung khắc, nhưng chỉ giảm độ số mà thôi. Đào là duyên, là tình, là chuyện vợ chồng, Hỉ là những kỳ ngộ trong tình trường. Đào, Hỉ đóng chung, không bị Tuần, Triệt, Kình, Đà, hứa hẹn cuộc đời đầy may mắn. Thanh-long là sao chủ về những tin vui, những mối tình thoáng qua, hoặc được cảm tình. Ba sao đóng chung, tạo cho nữ mạng Nhâm-Tý trở thành người đầy may mắn trong tình yêu, trong chuyện vợ chồng. Tác dụng của Thanh-long là sao chủ về những tin vui, những mối tình thoáng qua, hoặc được cảm tình. Ba sao đóng chung, tạo cho nữ mạng Nhâm-Tý trở thành người đầy may mắn trong tình yêu, trong chuyện vợ chồng. Tác dụng của Thanh-long vào Đào, Hỉ khiến cho họ trở thành người hấp dẫn, thu hút nam phái. Họ đẹp hay xấu, còn tùy dòng giống, tùy sao thủ mệnh. Nhưng dù sao nào thủ mệnh, dù giòng giống nào chăng nữa họ thu hút được phái nam. Phái nam say mê họ. Nhưng họ không lãng mạn, tuổi này thường có nhiều người làm ca-sĩ, tài tử điện ảnh, kịch-sĩ. Nếu số họ không có năng-khiếu nghệ thuật, họ là người mẫu để chụp hình (mannequin), chiêu đãi viên hàng không. Dù làm nghề gì họ cũng được nhiều người yêu trộm nhớ thầm.
Trong đời tình-ái, họ phải cắn răng từ chối biết bao lần những tình quân tới bày tỏ mối si-vong. Khi còn con gái họ có nhiều người chạy theo đã đành, khi đã chồng con đầm ấm, họ cũng vẫn hấp dẫn đàn ông như thường. May mắn Nhâm-Tý là tuổi đứng đắn, nên dù cho con tim rung động đến đâu, họ cũng giữ chân tình với chồng, giống như ca dao Việt-Nam :
Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống ruộng cà hái nụ tầm xuân,
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng anh tiếc lắm thay,
Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh không hỏi những ngày còn không.
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng, như cá mắc câu,
Cá mắc câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thủa nào ra.
Họ hơi khô khan, ít bị rung động trước những mối u-tình, nhưng dù con tim rung động, dù họ yêu nhiều, nhưng vẫn giữ chung thủy.
1.2. Hồng-loan, Thiên-khôi, Bệnh-phù đóng đồng cung ngộ cả Tuần lẫn Triệt. Hồng-loan chủ những kỳ-ngộ, may mắn và duyên dáng. Trong tình yêu, Thiên-khôi chủ được sủng ái. Bệnh-phù chủ những trắc trở. Nhưng cả ba sao bị Tuần, Triệt án ngữ, mất hết hiệu lực. Nữ mạng thiếu Hồng-loan, thì mất đi một phần duyên dáng, nhất là mất đi cái phần được sủng ái là Thiên-khôi. Bởi vậy một số nữ mạng tuổi Nhâm-Tý thường có hành động cử chỉ như nam mạng (garcon manqué) : Ồn- ào nghịch ngợm, tự nhiên, thích hoạt động. Họ thiếu hẵn tính chất nhu-mì, dịu-dàng. Các Tử-vi-gia cổ-điển thường rất kị những người phụ-nữ tuổi Nhâm, ví lý do này. Chúng ta đang ở thập niên 1980, những tuổi Nhâm-Dần (1962) Nhâm-Thìn (1952), Nhâm-Ngọ (1942), Nhâm-Thân (1932) là những tuổi hoạt động. Họ là những loại người nào ? Những phụ nữ sinh đẻ trong xã-hội Âu-M ỹ không đến nỗi phận hẩm duyên hiu cho lắm. Còn những phụ nữ Á-châu thuộc lứa tuổi này gần như lận đận chồng con. Có nhiều người xinh đẹp, dịu dàng, nhưng vẫn... ế chồng vì nam giới bị ảnh hưởng bởi câu "Nam Nhâm, nữ Quí" (Nam nên Nhâm mà nữ nên Quí) và "Nam bất Quí, nữ bất khả Nhâm" (Nam không nên tuổi Quí mà nữ không thể tuổi Nhâm). Kỳ thực dù không bị ảnh hưởng của khoa Tử-vi, xã-hội Á-châu thích phụ nữ phải dịu dàng, nhu mì, chứ không thích người ngổ ngáo, ồn ào như Nhâm-Tý.
1.3. Hỉ-thần là sao chủ về cảm giác, rung động được hưởng đóng tại Thìn với Long-trì, Đường-phù, Hoa-cái, Tấu-thư, Quan-phù. Long-trì, Đường-phù, Hoa-cái đều là những sao chủ về cao sang quyền quí, đóng tập trung với nhau thì họ được những người có địa vị cực cao say mê, sủng ái. Nơi cung còn thêm sao Tấu-thư chủ sách vở bút mực, đó là những bạn văn nghệ, bạn bút mực của họ. Họ chung tình, nếu họ có phiêu-lưu sẽ phiêu-lưu với những người có địa vị tuyệt cao. Với loại tình quân này, họ tìm được nhiều rung động, khoái cảm nhất trong đời họ.
2. Tóm lại nữ mạng Nhâm-Tý là người có chí-khí như nam giới. Họ hoạt động nhiều ngoài xã-hội, dù có chồng rồi, họ vẫn nhận được rất nhiều chân tình của tình quân. Họ trung thành với chồng, nhưng nếu họ phiêu lưu thì họ sẽ bay vào thế giới quyền quí, ở đó tình quân sủng ái, mang lại cho họ những rung cảm mãnh liệt nhất. Kinh-nghiệm cho thấy nữ mạng tuổi Nhâm-Tý là người duyên dáng hơn là xinh đẹp. Nhưng họ có hấp lực lạ lùng, người đàn ông nào thấy họ, cũng thấy rung động con tim, rồi sẽ đi đến si-mê. Đôi khi những si-mê đó biến thành oan trái trong tình trường.
3. Nhâm-Tý nên chọn chồng ở tuổi nào để tránh oan trái ?
3.1. Mạng thổ. Mộc khắc thổ. Nhâm-Tý mạng mộc, khắc mạng chồng. Đây là điều cấm kị của quan niệm Đông-phương. Sự thực kinh nghiệm thấy người vợ Nhâm-Tý lấy chồng mạng thổ thường diễn ra dưới hình thức : Người vợ khống chế chồng, hơn chồng về mọi phương diện. Mọi quyết định trong gia đình ngoài xã-hội đều do vợ hết. Ấy ch ưa kể thỉnh thoảng người chồng còn nhận được vài cái sừng. Ông ch ồng hiền lành như con ki-ki bên cạnh vợ. Người chồng đúng là một thứ nô-bộc phòng the. Ít th ấy một ông chồng ở xã-hội Đông-phương chịu được một bà vợ như vậy. Những cặp vợ chồng, mà vợ Nhâm-Tý chồng mạng thổ thường cãi nhau suốt ngày, ở cùng nhau mà không nhìn mặt nhau, hoặc không thì cũng bỏ nhau. Con cái sống trong địa ngục trần gian.
3.2. Mạng kim, kim khắc mộc, Nhâm-Tý mạng mộc tức mạng chồng thắng vợ. Cặp vợ chồng lý-tưởng theo Đông-phương. Nữ mạng Nhâm-Tý gặp nam phái mạng kim, dễ bị chinh phục, lôi kéo vào quỹ đạo và phục tùng họ. Người chồng chủ-xướng mọi việc. Dù Nhâm-Tý thông thái, cương cường đến đâu cũng răm rắp tuân theo chồng, đúng theo nghĩa phu-xướng phụ tùy. Đôi khi vì bản tính nhìn xa biết rộng, họ chống đối chồng, nhưng chung kết vẫn theo chồng. Con cái tốt.
3.3. Mạng thủy, thủy sinh mộc. Nhâm-Tý mạng mộc, được mạng chồng sinh ra. Họ được nhờ chồng. Do họ ham hoạt động, chủ mọi quyết định trong gia đình, họ vẫn được nhờ chồng. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận. Nhưng người chồng mạng thủy của Nhâm-Tý thường đóng vai một người tùy thuộc của họ và giúp đỡ họ đắc lực. Con cái tốt.
3.4. Mạng mộc, Nhâm-Tý mạng mộc, hai vợ chồng đồng hành. Dù đồng hành hay gì chăng nữa, chồng bao giờ cũng đóng vai phụ bên cạnh vợ. Vợ chồng đồng hành, nhưng Nhâm-Tý là tuổi cương-cường, đanh thép, nên họ chi phối người chồng dễ dàng. Người chồng Nhâm-Tý mạng mộc phải là người chịu đựng, nhịn nhục, hiểu biết vợ, mới tránh khỏi buồn phiền. Con cái tốt.
3.5. Mạng hỏa, mộc sinh hỏa, Nhâm-Tý mạng mộc, sinh ra mạng của chồng. Chồng được nhờ vợ. Đây là một đấng râu quặp thượng hạng. Họ được nhờ vợ. Nhưng họ cũng là người nhất nhất tuân theo mạng lệnh của vợ. Đối với họ, vợ là một " Đấng tối cao". Người chồng loại này thường nhu mì, dễ bảo. Con cái tốt.
4. Kết lại nữ mạng Nhâm-Tý không đến nỗi vô-duyên, không đến nỗi là một thứ " Bà chằng lửa" như người ta lầm tưởng. Họ có thể trở thành vô-duyên trước mắt những người khắt khe, nhìn phụ-nữ trong khuôn khổ xã hội Á-châu. Hiện tại, nam, nữ đều hoạt động xã-hội. Nếu có người đàn ông nhu mì, ù-lì thì cũng có người đàn bà cương cường. Những người nữ Nhâm-Tý mệnh lập tại Tý, Tuất ngộ Kình, Đà, hoặc sinh tháng 10 bị các sao Không, Kiếp hoặc Thiên-hình, Thất-sát thủ mệnh thì quả thực họ là những bà chằng tinh, chằng lửa, lại vô duyên, dâm dục nữa. Dù sao trời sinh ra loại người này, cũng sinh ra những đấng nam nhi như con ki-ki để cho họ sai khiến.

 Học Phong Thủy


TUỔI NHÂM TÝ PHẦN 3



TUỔI NHÂM TÝ
Mệnh Tang Đố Mộc (Gỗ cây dâu)
Sinh từ :
19 tháng 3 năm 1912 đến 8 tháng 3 năm 1913
15 tháng 2 năm 1972 đến 30 tháng 4 năm 1973

 Học Phong Thủy


III. DUYÊN TÌNH TUỔI NHÂM TÝ
1. Nhâm-Tý là tuổi thuận-lý trời đất. Quan-niệm yêu-đương của họ cũng trong khuôn khổ thuận thiên-nhiên, hợp xã-hội và nhân-tính. Nhiều người không hiểu, cho rằng họ khó tính. Sự thực họ không những dễ tính, còn dễ thông cảm với người yêu, khi sóng gió nổi dậy.
2. Tuổi Nhâm-Tý sớm trưởng thành trong nghệ thuật, và cung cách đối xử với người yêu. Dù tuổi trẻ, họ cũng chín chắn, thâm trầm, ít thấy có người tuổi Nhâm-Tý bồng bột yêu thương, hoặc "yêu cuồng, sống vội". Ngay trong xã-hội Tây-phương, tình yêu được khuyến-khích, tuổi vị-thành-niên không bị cấm đoán, họ vẫn thuộc loại mô-phạm, chín chắn. Đôi khi họ già trước tuổi trong luyến-ái quan.
2.1. Nhâm-Tý là tuổi suy nghĩ rồi mới yêu, chứ không bạ đâu yêu đó, tình-cảm giăng mắc lê thê. Khi Nhâm-Tý nói rằng yêu ai, thì là người họ yêu thực sự. Tuổi nào, khi còn trẻ, cũng có những mối tình vụn vặt, bất đắc chí. Nhưng Nhâm-Tý ít bị. Cha, mẹ, anh, em của họ ít phải bận tâm vướng mắc vào chuyện tình của họ. Họ yêu ai, muốn thành hôn với ai, người thân của họ đồng ý ngay. Duyên tình oan trái kiểu Hồng-lâu-mộng, kiểu Roméo-Juliette khó xảy ra với tuổi Nhâm-Tý. (7)
2.2. Hãy xét về những sao chủ tình yêu của họ :
2.2.1. Đào-hoa, đệ nhất chính-tinh chủ tình và duyên đóng tại Dậu. Đào-hoa thuộc mộc, Dậu thuộc kim. Kim khắc mộc, cây hoa đào đã bị chặt cành, bới rễ, duyên tình khó khăn.
2.2.2. Thiên-hỉ chủ may mắn, kỳ ngộ trong tình yêu đóng chung một chỗ với Đào-hoa, may không bị bản cung khắc. Đào-hoa bị khắc, nhưng không bị bới gốc, bới rễ, mà chỉ giảm cường độ, được Thiên-hỉ phù trợ, hóa ra yêu, được yêu, gặp kỳ ngộ. Những tuổi Tý khác Đào, Hỉ cũng đóng chung. Nhưng bị Tuần ngăn chặn như Bính-Tý. Bị Kình, Đà phá như Canh-Tý, chỉ có Mậu và Nhâm-Tý là được toàn vẹn. Mậu-Tý kém may mắn hơn Nhâm-Tý, vì bản mệnh Mậu-Tý là Tích-lịch hỏa, khiến tính nóng nảy thiếu tế-nhị. Hai sao Đào, Hỉ đóng chung, độ may mắn của Nhâm-Tý tăng lên gấp bội.
2.2.3. Hồng-loan đóng ở Mão với Thiên-khôi ngộ Triệt, bản mệnh Nhâm-Tý cũng thuộc mộc, bị khắc. Hồng-loan là sao chủ duyên may, hỉ-sự như Thiên-hỉ. Thiên-khôi trong tình yêu chủ về được sủng ái. Khôi ngộ Hồng đáng lẽ Nhâm-Tý là tuổi hạnh-phúc như biển cả, được người yêu sủng-ái tràn đầy như nước sông Dương-tử, tiếc rằng bị Triệt, giảm đi rất nhiều.
3. Trái với các tuổi Tý khác. Nhâm-Tý là người nhiều Dương-tính, nên họ chủ động trong tình yêu.
– Khi họ yêu ai, họ tìm đủ cách bày tỏ tình-cảm.
– Họ nhất tâm quyết-chí đi đến kết quả. Giữa hai người yêu nhau, thì họ là người bày tỏ cảm tình trước.
– Trong phòng-the họ cũng chủ-động.
– Họ không phải người độc tài. Họ biết chiều chuộng người yêu, làm theo ý người yêu. Nhưng chuyện yêu thương họ chủ động.
– Họ sáng suốt, biết giới hạn chủ động của mình để làm vui lòng người yêu. Họ chịu làm bất cứ điều gì, để tạo hạnh-phúc, cảm giác mạnh cho người yêu.
4. Tuổi Nhâm-Tý yêu đương sớm, gái 13, trai 16, tình-dục cũng sớm, thân-nhân họ biết, mà không ngăn cản, vì họ khôn trước tuổi.
5. Tuổi Nhâm-Tý chủ-động trong tình yêu, nên họ hay bị những phản ứng tiêu cực của người yêu : làm cao, làm phách, điệu bộ, khó khăn, gây sì-căng-đan. Dù người yêu đóng kịch cách nào họ cũng biết, nhờ thiên tính dung hoà nội tâm, hợp với trời, thuận với người họ vượt qua.
6. Nhâm-Tý thường không tha thứ cho người yêu khi phản bội họ. Họ sẵn sàng bỏ người yêu, làm lại cuộc sống với người khác, dù người khác thua người yêu của họ nhiều.
Câu tục ngữ :
Lấy đĩ về làm vợ,
Không lấy vợ về làm đĩ.
Có thể áp dụng vào quan-niệm yêu thương của họ.

 Học Phong Thủy


IV. DUYÊN TÌNH NAM NHÂM TÝ
1. Duyên-tình nam mạng Nhâm-Tý cũng có tính chất chung ở trên, nhưng khác biệt khá nhiều với nữ mạng :
4.1. Đào-hoa đóng chung với Thiên-hỉ, ngộ Phục-binh, có hai ngã rẽ : Nếu họ sinh vào giờ Dần, Tuất, hoặc tháng 1, thì Đào, Hỉ sẽ biến thành oan-trái. Phục-binh là sao phụ thuộc, ngộ cát tinh hóa thành được người giúp đỡ đắc lực trong tình yêu. Ngộ hung tinh thì biến thành bị lừa dối, bị lợi dụng, bị dèm pha. Người sinh giờ Dần, Tuất ngộ Kiếp, Không, hai sao chủ lừa đảo, lắm điều hợp với Phục-binh, thì tình-trường đầy oan trái chông gai. Kinh-nghiệm thấy những người có số này, thường bị đàn bà lừa dối, lợi dụng hại ngầm, và xung quanh đầy những cái lưỡi rắn độc phun nọc vào tình yêu. Nếu họ sinh vào tháng 1 thêm Thiên-hình đóng với Đào, Hỉ, thì thế nào cũng vì tình yêu mà xẩy ra kiện tụng hoặc bị đánh dập đau thân xác. Còn lại các trường hợp khác : Nhâm-Tý gặp may mắn trong tình trường, họ yêu, biết yêu, được yêu, và nhất là được bạn hữu, thân thuộc giúp đỡ trong tình yêu.
4.2. Hồng-loan đóng chung với Thiên-khôi, Tướng-quân ở Mão ngộ cả Tuần lẫn Triệt. Hồng-loan chủ gặp gỡ, trong duyên tình. Thiên-khôi trong tình yêu chủ được sủng ái, âu-yếm, chiều chuộng. Tướng-quân chủ oai quyền, trong tình yêu là sao chủ động. Tướng, Hồng, Việt đóng chung thì Nhâm-Tý gặp nhiều may mắn. Chính họ là người biết chiều chuộng, sủng ái người yêu. Nhưng tiếc rằng ngộ cả Tuần lẫn Triệt thành hư vô. Tuần là sao chủ bao vây, nhưng chỉ bắt đầu phát động từ sau tuổi 30. Triệt chủ chém, cắt đứt, phát động ngay từ thủa sinh ra. Cái cách Tướng-quân ngộ Triệt là cách độc địa, thành ra tuổi Nhâm-Tý thường mất đi phần may mắn, duyên dáng, hấp dẫn. Nhâm-Tý là tuổi thuận với thiên nhiên, nên họ dễ say mùi đạo, coi duyên tình là cái dây oan trái của đời người, họ cố thoát ra để tìm hạnh-phúc vĩnh-cửu tức là tu-hành.
4.3. Thanh-long đóng ở Mùi. Thanh-long là sao chủ những tin vui, những gặp gỡ thoáng qua trong đời người hay chỉ những mối tình chớm nở chưa thành, như hoa còn nụ, như măng mới nhú mầm. Nhâm-Tý mạng mộc, Sửu thuộc thổ, như vậy Thanh-long dễ tác dụng vào người họ, tức là họ được nhiều đấng má hồng cảm-tình với họ. Họ có nhiều mối tình chớm nở, nhiều những vẻ đẹp thoáng qua " Tình trong như đã, mặt ngoài còn e". Đối với các tuổi khác, thì từ đó biến thành mối tình nồng nàn. Nhưng Nhâm-Tý là tuổi đứng đắn, họ có khả năng khắc kỷ, tránh được những tơ duyên oan nghiệt.
Đối với những vị chân tu, sao Thanh-long sẽ giúp họ thu phục được nhiều đệ tử, nhiều tín đồ. Họ được sư trưởng thương yêu. Đó là lý do các vị tu sĩ tuổi Nhâm-Tý thành những người đạo-cao, đức trọng, có nhiều đệ-tử danh tiếng.
4.4. Hỉ-thần là sao chủ về hạnh-phúc, cảm-giác, diễm-phúc được hưởng. Hỉ-thần đóng tại Ngọ với Thiên-khốc, Thiên-hư. Nhâm-Tý được hưởng những cảm-giác tuyệt vời trong tình yêu, những khoái cảm mãnh liệt nhất trong phòng the. Tuổi Nhâm-Tý chủ-động trong tình yêu, trong phòng the họ cũng chủ động. Họ vốn là loại người giỏi nghệ-thuật yêu-đương. Khi họ chủ động, họ tự tạo lấy hạnh phúc, vợ họ chỉ là người thụ-động hoàn toàn.
5. Nhâm-Tý là tuổi gặp nhiều may mắn trong tình trường. Họ lấy vợ sớm, không gặp trở ngại. Họ được nhiều người xung quanh họ như cha, mẹ, anh, em, bạn hữu, thân thuộc giúp đỡ họ trong tình yêu. Thời thanh-niên, họ sống rất lãng mạn, gặp nhiều kỳ duyên. Cô nào, bà nào được họ yêu, thì đó những mối hạnh ngộ lớn trong đời. Khi gần người nào họ cũng yêu thương, sủng-ái cùng cực.
5.1. Họ chung tình, chủ động trong cả tình yêu lẫn phòng the. Họ biết rõ tâm-lý vợ, người yêu, nên họ được yêu. Nhâm-Tý khác Bính-Tý, Bính-Tý biết yêu, biết chiều. Cái yêu cái chiều của Bính-Tý là do tính lãng-mạn nảy sinh, nên khi mới gặp, họ "cho" hết, tình nghĩa mặn nồng, để rồi sau đó không còn gì cho mai sau. Nhâm-Tý đối xử đẹp với người yêu, nhưng họ biết giới hạn, mỗi loại người họ đối xử một khác, họ tỉnh táo trong khi yêu.
5.2. Bính-Tý yêu say mê, đắm đuối, bên cạnh cái thông minh, sắc bén; khi biết bị phản bội, thì tuyệt tình không hề tha thứ. Nhâm-Tý chủ-động với người yêu, người yêu mới phạm lỗi họ đã sửa đổi ngay, thành ra người yêu của họ không bị đi quá trớn.
5.3. Từ năm 30 tuổi trở đi, Nhâm-Tý không còn ướt át nữa, do vậy họ ít gặp kỳ ngộ trong duyên tình. Họ được nhiều người có cảm tình với họ. Nhờ bản tính đứng đắn, họ tránh được dây oan trái, nên họ ít có những mối tình vụn vặt, bất-chính. Về cảm giác trong yêu thương, họ vốn chủ-động, nên họ tự tạo được.
6. Tuổi Nhâm-Tý nên lấy vợ, chọn người yêu tuổi nào, để đỡ bị rắc rối ? 6.1. Mạng Thổ, mộc khắc thổ, Nhâm-Tý mạng thổ, tức mạng chồng khắc vợ, đây là cặp vợ chồng lý-tưởng theo quan-niệm xã-hội Đông-phương :
"Phu khắc thê nghi tài nghi tử.
Thê khắc phu nghi bại nghi vong"
Nghĩa là chồng khắc vợ trở thành cặp tài tử, vợ khắc chồng thì trở thành bại, vong.
Với người phụ-nữ mạng thổ, gặp Nhâm-Tý họ bị chinh-phục dễ dàng. Trong suốt cuộc yêu thương, người vợ mạng thổ, hai người sẽ tạo được những ngày bên nhau lâu dài. Cuộc sống hứa hẹn đến đầu bạc răng... giả. Con cái đầm ấm, được hưởng hạnh phúc vô tận của hai vợ chồng.
6.2. Mạng kim, kim khắc mộc, Nhâm-Tý mạng mộc, bị mạng của vợ khắc. Đây là điều cấm kị trong hôn nhân, trong gia đình Đông-phương. Bởi vợ khắc chồng, người chồng làm ăn lụn bại, cuộc sống gia đình như hỏa ngục. Nhâm-Tý lấy vợ mạng kim, họ sẽ có người vợ lăng loàn khó chịu. Nhâm-Tý là người linh-mẫn, biết được những biến chuyển xuang quanh, tìm hiểu được sự thật mọi vấn đề. Nhưng bên cạnh có người vợ thích qua mặt, lừa dối, phản bội, dù họ có đại lượng đến đâu chăng nữa, cũng sẽ đổ vỡ. Lấy vợ để bỏ vợ, thà đừng. Con cái sống trong hỏa ngục, khốn cùng.
6.3. Mạng thủy, thủy sinh mộc. Nhâm-Tý mạng mộc, được mạng vợ sinh ra. Nhâm-Tý là người chủ động trong tình yêu, trong việc nhà. Nếu có người vợ mà bổn mạng sinh ra họ thì họ sẽ được hưởng một cảnh gia đình ấm cúng, vợ hiền thục, lo lắng, giúp đỡ chồng, nói khác đi họ được nhờ vợ. Nhâm-Tý cần được rảnh rang, để đầu óc sáng sủa mới hòa hợp được chông gai số mạng. Họ có ngộ tính cao đối với sự vật, vì vậy nếu có người vợ mạng thủy, giúp đỡ họ, họ sẽ thành-công rất nhiều trên đường đời. Con cái ngoan ngoãn, được hưởng hạnh phúc.
6.4. Mạng mộc, Nhâm-Tý cũng mạng mộc, hai vợ chồng đồng mạng. Nhâm-Tý là người chủ động trong tình yêu. Nhưng dễ gì họ tìm được người vợ cùng một " gu" với họ ? Phu xướng, nhưng liệu phụ có tùy hay không ? Họ có người vợ mạng mộc, thì vợ chồng cùng gu yêu đương. Trong phòng the họ sẽ được hưởng những lạc thú, rung động tuyệt vời. Con cái tốt, được hưởng cảnh gia đình đầm ấm.
6.5. Mạng Hỏa, mộc sinh hỏa, Nhâm-Tý mạng mộc, sinh ra mạng của vợ. Nhâm-Tý đến với vợ thường là người nhỏ tuổi, hoặc ở vai vế nhỏ hơn. Người vợ mạng hỏa được hưởng tính cực dương của chồng : Được chiều chuộng, bao che, lo lắng giúp đỡ. Nhâm-Tý lo cho vợ như một cô em gái. Người vợ mạng hỏa cần biết tự chế hành động, nên nhu mì, dịu dàng để được hưởng yêu thương hơn là cương cường, sẽ mất hết. Con cái tốt.
7. Kết lại, nam mạng Nhâm-Tý có cuộc đời yêu thương chân chính, đôi khi thánh thiện. Họ trung thành với vợ, giúp đỡ vợ, họ dễ đạt hạnh phúc gia đình. Tuổi Nhâm-Tý mà có cuộc sống tình cảm lê thê, bất chánh, phải hiểu rằng mình là người... đáng trách. Họ biết tha thứ, biết giáo huấn vợ con nhưng họ không quá dễ tính, biết giới hạn những gì quá đáng, để đi đúng với thiên nhiên, với tạo hóa.

 Học Phong Thủy


TUỔI NHÂM TÝ PHẦN 2


TUỔI NHÂM TÝ
Mệnh Tang Đố Mộc (Gỗ cây dâu)
Sinh từ :
19 tháng 3 năm 1912 đến 8 tháng 3 năm 1913
15 tháng 2 năm 1972 đến 30 tháng 4 năm 1973

 Học Phong Thủy

II. CÁ TÍNH
1. Bất cứ người Việt-Nam, Trung-Hoa nào cũng biết câu :
Trai Nhâm, gái Quý.
Để chỉ là con trai nên sinh vào năm Nhâm, là con gái nên sinh vào năm Quý. Câu thành ngữ này xuất phát từ Tử-vi kinh :
"Nam nghi Nhâm, nữ nghi Quý".
Nghĩa là : Nam nên Nhâm, nữ nên Quý.
Người sau giải thích :
Phù, nam Nhâm nhi dương thái thịnh. Ngu giả vi trượng phu.
Hiền giả vi anh-hùng dã. Nữ Quí giả, âm thái thịnh, hiền nhi thả nhu.
(Triệu-thị minh thuyết Tử-vi-kinh, chương can, chi luận).
Nghĩa là đàn ông tuổi Nhâm thì dương tính mạnh bậc nhất, nếu là kẻ thất học cũng thành đấng trượng phu, nếu là bậc hiền-giả thì sẽ trở thành anh-hùng. Còn người đàn bà tuổi Quý, âm tính mạnh bậc nhất, sẽ là người vừa hiền vừa nhu thuận.
Các Tử-vi gia đời Tống bên Trung-hoa, đời Trần bên Việt-Nam đều công nhận câu trên là đúng.
Trong Tử-vi-kinh cũng bàn rằng trai không nên Quý, gái không nên Nhâm. Bởi trai tuổi Quý nhiều Âm-t ính quá, trở thành hiền, mà theo triết học Á-châu thì "Quá hiền giả ngu", nghĩa là người hiền quá thành ngu. Ngược lại gái thì không nên tuổi Nhâm, bởi tuổi Nhâm nhiều dương-tính sẽ thành vô duyên, có cử chỉ như trượng phu.
Đây là quan niệm cổ, còn ngày nay trai Quý, gái Nhâm vẫn tốt. Xã hội cuối thế-kỷ thứ 20 ngày nay càng đi vào tranh dành, ác độc. Nếu có người đàn ông tuổi Quý hiền hậu, trung thực chẳng đáng trọng ư ? Còn nữ tuổi Nhâm có xấu không ? Trên thế-giới hiện có 9 nước theo chế độ quân-chủ thì hết ba nước do nữ-hoàng cai-trị. Một nước có nữ tổng thống. Hai nước có nữ thủ-tướng, và khoảng 50 nữ bộ trưởng. Ngày nay, nếu có nhiều phụ-nữ đầy dương-tính, lợi cho xã-hội biết bao ?
Vậy nữ Nhâm vẫn đáng trọng.
2. Tuổi Tý đã tinh-khôn hơn các tuổi khác, mà lại Nhâm nữa thì quả tuổi Nhâm-Tý là tuổi xuất chúng.
3. Bàn về ngũ-hành, Nhâm Tý mệnh tang-đố-mộc. Chi Tý thuộc thủy. Nhâm cũng thuộc thủy. Thủy sinh mộc, như vậy tuổi Nhâm-Tý được cả can lẫn chi sinh ra bản mệnh. Nhâm thuộc màu đen. Tý là con chuột, nên người ta gọi Nhâm-Tý là con chuột đen, để phân biệt với các tuổi Tý khác.
3.1. Can Nhâm thuộc dương, Chi Tý thuộc dương kết thành tuổi thuần-dương. Mệnh là bản chất con người, thiên tư con người trời sinh ra. Chi là địa-bàn chủ những thay đổi của con người trước những biến-chuyển cuộc-đời. Can là tác dụng của hoàn-cảnh ở ngoài vào con người.
Nếu ví con người với một chiếc xe thì bản mệnh là chiếc xe. Xe hiệu gì, mã lực bao nhiêu, ưu điểm, khuyết điểm của từng loại xe khác nhau. Còn chi là đường xá, xe chạy trên đường tốt thì bền, mau, chạy trên đường xấu thì chậm trễ, dễ hỏng. Còn can là ngày, là giờ, là mùa, là nắng, là cát là bụi, là cây cỏ, thú vật, trên đường đi, ảnh hưởng, tác dụng vào chiếc xe.
3.2. Tuổi Nhâm-Tý được can, chi sinh ra bổn mệnh thì :
– Những thay đổi của cuộc đời, dù thế nào chăng nữa cũng vẫn là thay đổi tốt cho bản mệnh.
Cổ nhân nói :
"Nhân sinh bất như ý sự thường bát cửu".
Nghĩa là trong cuộc sống của con người, những điều bất như ý thường chiếm đến 8, 9 phần mười.
Câu này không đúng với tuổi Nhâm-Tý. Nhâm-Tý sinh ra thu được tất cả những thay đổi của cuộc đời vào trợ giúp cho bản-mệnh, thì còn gì là sung sướng hơn ? Còn gì đắc ý hơn ?
– Cuộc đời con người đầy sóng-gió. Mỗi chặng đường đi đầy rẫy chông gai nguy-hiểm. Chỉ có Nhâm-Tý, thì những sóng gió luôn luôn lợi cho bản-mệnh.
3.3. Thường sau những biến cố bất lợi, chính biến cố đó nảy sinh ra chân trời mới đầy hoa thơm cỏ lạ, như truyện Tái-ông mất ngựa của ngụ-ngôn Trung-quốc :
Tái ông có con ngựa hay. Một hôm xổ chuồng đi mất. Hàng xóm chia buồn. Ông trả lời :
– Mất ngựa không phải là điều bất hạnh.
Mấy hôm sau con ngựa trở về dẫn theo con ngựa rừng. Hàng xóm đến chia mừng. Ông nói :
– Được ngựa không phải là điều đáng mừng.
Hơn tháng sau. Người con ông cưỡi ngựa rừng, bị ngựa vật ngã gẫy chân. Hàng xóm đến an ủi. Ông nói :
– Con tôi què chân không hẳn là điều rủi.
Chỉ ít lâu sau loạn lạc xẩy ra, trai tráng phải đi lính, chết trận không biết bao nhiêu mà kể, duy có con trai ông vì gẫy chân nên khỏi đi lính.
3.4. Nhâm Tý đắc cách can, chi sinh bản mệnh. Cổ nhân mệnh danh là :
"Thiên địa đồng qui".
Nghĩa là trời, đất cùng họp về một mối.
Học thuyết âm-dương nói rằng trời là dương, đất là âm. Khi trời đất gồm về một mối, thì âm-dương điều hòa.
Con người có cách "Thiên-địa đồng qui" không gì làm họ bế tắc được.
3.5. Các Tử-vi-gia sau đời Tống, khi nói về tuổi Nhâm Tý thường mang lẽ thiên-địa đồng-qui bàn rộng ra rằng tuổi Nhâm-Tý có tài thu tóm cả trời đất vào trong tay, và tuổi này đi tu sẽ đắc-đạo, trở thành tiên, thành Phật. Thực ra Nhâm-Tý quả có hạnh đi tu, nhưng cả trăm triệu người mới có một người đắc đạo.
3.6. Chữ thiên-địa đồng-qui phải hiểu rằng họ biết được lẽ biến hóa không ngừng của vũ-trụ. Hành-sự hợp với biến chuyển của trời đất. Mọi sự họ làm đều không xa thần-linh (Của tôn giáo họ).
3.7. Họ lại biết dung hòa chân-tâm với biến đổi ngoại vật, nên không viển-vông, hão-huyền. Đối với vạn-vật, họ dung hòa giữa âm-dương.
3.8. Đối với loài người. Họ biết được nội tâm của từng loài. Học thuyết âm-dương định rằng thiên là dương, địa là âm. Âm-d ương đồng qui thì con người Nhâm-Tý thăng bằng. Họ làm việc trung-dung, ít khi quá khích. Họ không theo bè, kết đảng, mà tự giác, tự tỉnh, rồi hành sự.
3.9. Ít khi tuổi Nhâm-Tý chạy theo người này, hay người khác. Các nhà tu tuổi Nhâm-Tý thường là những vị có địa vị tối cao, giỏi kinh điển, đông tín đồ.
4. Tuổi Nhâm-Tý là tuổi nhìn xa thấy rộng, biết mình, hiểu mình, hòa-hợp được các mâu-thuẫn, chông gai của số mạng. Cổ nhân bình-luận:
"Thượng hiệp vu thiên,
Hạ tri vạn vật".
Nghĩa là : Trên hợp với trời, dưới thông vạn-vật.
4.1. Nếu so sánh với các tuổi Tý khác tuổi Giáp-Tý là tuổi có năng-khiếu nhận xét sự vật xung quanh, để đưa ra đường lối hành động (quyết-đoán) và do đó biết điều-khiển tình-thế, tức "Ôm giang-sơn vào lòng". Tuổi Bính-Tý là tuổi mẫn-tiệp, đa-năng, ở đâu cũng là người lãnh đạo. Tuổi Mậu-Tý thiên-tính tự điều-chỉnh số-mạng đi đúng đường. Tuổi Canh-Tý là tuổi thanh-khiết, đạo-đức. Còn tuổi Nhâm-Tý thì đi xa hơn, siêu-nhiên hơn là hiểu được thiên-mệnh biết được lòng người.
4.2. Nhân sinh thường không biết tri-kỷ tức là tự biết mình. Tự biết mình đang ở trong hoàn-cảnh nào ? Sức khỏe ra sao ? Năng khiếu hướng về đâu ? Tài-ba ở bực nào ? Khi không biết mình, biết thế-sự rồi than tại sao tôi đau yếu mà người thì khỏe mạnh. Tại sao tôi nghèo, mà người thì giàu. Tại sao tôi khổ, mà người thì sướng ? Từ đó sinh ra oán hờn cuộc đời.
Nhưng cũng có người an-phận thủ-thường, tự biết mình, không bon chen, không tranh đua, nhìn cuộc thế dưới con mắt bình-hòa, đó là người "tri túc" tức là biết đầy đủ. Người tuổi Nhâm-Tý tự biết mình, tự hiểu mình.

 Học Phong Thủy


5. Nếu số Tử-vi họ có những sao hiền hòa, thì Nhâm-Tý lấy cái biết mình như thế nào, mà thiết-kế cho cuộc đời đạo lý. Còn người có sát tinh thủ mệnh thì họ dùng cái biết mình, ưu điểm khuyết điểm của mình để làm những điều ác. Nhưng dù ác hay thiện thì Nhâm-Tý là tuổi tri-kỷ, tức tự biết mình. Khi họ tự biết mình, người có sao thủ-mệnh minh mẫn, họ nắm được cuộc đời trong tay.
5.1. Nhưng biết là một truyện, làm được hay không là truyện khác, bởi vậy có nhiều người Nhâm-Tý biết mình mà không biết đưa mình vào đường nào, lối nào phù-hợp với đạo lý phù-hợp với nhân-sinh. Nhâm-Tý thua Giáp-Tý, Bính-Tý ở điểm này.
Câu truyện ngụ ngôn "Con cọp và con trâu" sau đây để dẫn chứng về biết mình, biết người :
Con cọp thấy trâu làm việc suốt ngày dưới nắng. Cọp hỏi trâu :
– Anh trâu ơi, tôi thấy anh to lớn, khoẻ mạnh, tại sao anh để cho người nông-phu bé nhỏ bắt anh làm việc, còn bị đánh đập như vậy ?
Trâu trả lời :
– Tôi chịu để cho người ta sai khiến đánh đập vì họ có trí khôn.
Cọp hỏi người nông-phu :
– Ông nông-phu ơi, trí khôn của ông ở đâu, cho tôi xem một tý được không ?
Người nông-phu trả lời :
– Trí khôn tôi để ở nhà, nếu tôi về lấy thì ông ăn thịt con trâu của tôi. Ông mu ốn xem, phải cho tôi trói ông lại đã.
Cọp bằng lòng cho người nông-phu trói lại. Sau khi trói cọp rồi, người nông-phu lấy bắp cày đánh cọp, nói rằng :
– Trí khôn của tao đây.
Câu chuyện trên cho thấy trâu là người biết mình, cọp là người không biết người, cũng không biết mình. Còn nông-phu là người biết mình, biết người.
5.2. Tuổi Nhâm-Tý là tuổi nhìn xa biết rộng. Một sự-vật diễn ra, họ biết lý luận để tìm rõ nguyên-ủy do đâu mà có, sau sự kiện này, những gì sẽ xảy ra. Nhờ đức tính đó, Nhâm-Tý có thể làm nghề nghiên-cứu, và thành công. Nếu làm chính-trị, quân-sự, họ là nhà chỉ-đạo tài ba. Khi một trận đánh diễn ra, họ thấy ngay nguồn gốc của lẽ thắng bại, cùng những biến-cố tiếp diễn do ảnh hưởng của trận đánh. Nếu họ có tài hơn, họ biết phải làm thế nào khi họ bại, hoặc thắng. Vì nhìn xa, thấy rộng, họ ít ngạc nhiên trước những biến cố đã, đang và sẽ xảy ra.
5.3. Người ta cho rằng tuổi Nhâm-Tý nhờ ơn siêu nhiên mà biết trước mọi biến-cố, nghĩ như thế là sai. Có thể họ có ơn siêu nhiên, ví dù không có ơn trên ban cho, thì với khả-năng trông rộng, nhìn xa họ kiến-giải sự việc vẫn đúng, đó là đặc tính của họ.
5.4. Dẫn chứng lịch-sử :
Trần-quốc-Tảng, con thứ Hưng-Đạo vương. Ngài xuất thân làm tướng đánh Mông-cổ. Khi nước thanh bình, ngài bỏ đi tu, pháp danh Tuệ-Trung. Ngài đắc đạo, nên được chúng nhân tôn xưng làm Tuệ-Trung bồ-tát (1252-1313).
Ngài tuổi Nhâm-Tý, vì nổi tiếng trông rộng nhìn xa đời Trần. Bởi vậy người ta nghi ngài là Bồ-tát A-Nan đầu thai. Xét kỹ hành-trạng của ngài, chẳng qua có đức tính thấy mọi sự trước chúng sinh, như Bồ-tát A-Nan xưa kia, nên huyền-thoại hóa đi như thế.
Huyền sử kể, sau khi đánh đuổi quân Mông-cổ. Hưng-Đạo vương họp con, cháu, tướng sĩ lại để thử lòng. Ngài nói :
– Ta muốn lấy ngôi vua để báo thù cho phụ vương. Các người nghĩ sao ?
Hưng-Đạo vương là con An-sinh vương Trần-Liễu. Trần-Liễu kết hôn với công chúa Thuận-Thiên. Em Trần-Liễu là Trần-Cảnh kết hôn với Lý-chiêu-Hoàng. Trần-Cảnh được vợ nhường ngôi, thành vua Trần Thái-Tông. Năm Chiêu-Hoàng mười chín tuổi, không con. Bấy giờ thái sư Trần-thủ-Độ sợ tôn thất nhà Lý rục rịch muốn đòi lại ngôi vua, mới giáng Chiêu-Hoàng xuống làm công chúa. Lại bắt vợ Trần-Liễu mới có mang ba tháng vào cung làm vợ Trần-Cảnh. Khi Trần-Liễu sắp chết, di chúc cho con cháu, sau phải lấy ngôi vua của Trần-Cảnh để báo thù.
Nay Hưng-đạo-vương họp các con để thử lòng bằng cách đem việc An-sinh-vương Trần-Liễu dặn cướp ngôi vua Trần để trả thù.
Hoài-văn-hầu Trần-quốc-Toản chưa phát biểu ý-kiến xong, đã bị Vương mắng "phạt" phải rời Thăng-long lĩnh ấn Trấn-bắc đại-tướng-quân.
Không ai hiểu ý Hưng-đạo-vương, ngoài Tuệ-trung. Ngài ngửa mặt lên trời cười, làm bài ca "Bảo rằng phạt thì là phạt, bảo rằng thưởng thì là thưởng". Khi Hưng-đạo-vương băng hà, Trần-quốc-Toản về Thăng-long chịu tang rồi phải lên đường ngay. Ngài Tuệ-trung biết em mình sẽ đổ uất ức lên đầu tướng-sĩ, nên ngài rượt theo đến cửa ông, thổi tiêu, giảng giải thâm ý của cha cho em nghe.
6. Tuổi Nhâm Tý có tài hòa-hợp được những mâu-thuẫn của nội-tâm. Nội-tâm con người thì phức-tạp, khi ở bên Đông thì muốn hành sự bên Tây. Khi ở Nam, lòng muốn qua Bắc, không biện biệt được tương-quan hoàn-cảnh với con người.
Nhờ Can sinh mệnh, nên Nhâm Tý hòa-hợp được hoàn-cảnh với con người. Đó là điều thiết yếu để thăng bằng giữa ta với người. Khi nội-tâm Nhâm-Tý nghĩ gì, thì cân nhắc rồi hành-sự. Nhâm-Tý không như một số tuổi khác, trong tâm biết rõ thế nào là phải, thế nào là trái, thế nào là ưu liệt cuộc đời. Nhưng chung cuộc thực-hành khác hẳn, thảng hoặc trái ngược, giữa lời nói và việc làm không đi đôi với nhau : "Hãy nghe theo tôi và đừng làm theo tôi".
Tuổi Nhâm-Tý không có mâu-thuẫn ấy. "Nghe và làm theo tôi". Chính vì lý do này, họ thường chinh-phục được mọi người, được chúng nhân tôn-phục.
6.1. Nhâm-Tý nhờ hòa-hợp được mâu-thuẫn nội-tâm. Họ hiểu được lẽ biến-hóa, lẽ vô-thường của thế-gian, mà giác ngộ, say mùi đạo. Khi đã mặc áo nhà tu, ở nhà tu. Họ trở thành những chân tug mẫu-mực, sư-trưởng một dòng, sáng-lập một chi. Họ là tu sĩ có trái tim từ ái, lặn lội đi xa hoằng-dương đạo pháp (Chúng tôi chưa có tuổi chính xác của các vị thừa-sai Thiên-chúa-giáo lặn lội đi xa truyền đạo).
Các vị Bồ-Tát danh tiếng sau đây đều tuổi Nhâm-Tý :
– Ngài Tỳ-ni Đa-l ưu-chi từ Ấn- độ sang Trung-quốc, rồi đến VN năm 560 (3).
– Ngài Nguyên-Hạnh nhất-sư từ Ấn- độ qua Miến-điện, Thái-lan, Cao-miên vào Việt-Nam hoằng-dương đạo-pháp (4).
– Ngài Tuệ-Trung Bồ-tát được coi là Yên-tử sáng-tổ, lập ra thiền phái Trúc-lâm Yên-tử.
Gần đây nhất hòa thượng Chân-Thường, là vị tăng đầu tiên đến châu Âu độ Phật-tử cũng tuổi Nhâm-Tý. (5)
6.2. Một đặc tính khác của tuổi Nhâm-Tý là thiên nhân tương dữ, tức trên biết hợp với trời, dưới biết hòa với người. Người xưa giải thích như sau :
..."Trời là Dương, đất là Âm, nh ờ Âm-d ương hòa-hợp mà vạn-vật sinh xôi nảy nở. Trong vũ-trụ có ngũ-hành. Vạn-vật do lý ngũ-hành mà biến-động không ngừng. Năm có bốn mùa, cây cỏ đi theo lẽ tuần hoàn : Xuân sinh Hạ trưởng, Thu liễm, Đông tàn. Vạn-vật trong vũ-trụ cũng đi theo luật ấy. Cho nên lý thiên-nhân tương-dữ là những gì giữa biến động vũ-trụ và con người luôn dính liền nhau" .
6.3. Nhâm-Tý làm việc gì cũng thích hợp với qui-luật biến động vũ-trụ, cho nên họ đoán trước được các biến chuyển thiên nhiên. Cổ-nhân mê tín dị đoan, cho rằng họ là những đấng thiêng liêng giáng trần làm phận-sự. Họ đi đứng, làm việc, chọn chỗ ở, đến cách đối xử, luôn hợp và thuận với tính thiên nhiên của con người, với qui-luật tạo-hóa.
6.4.Tuổi Nhâm-Tý đại-lượng, rộng rãi, dễ tha thứ. Họ rộng rãi về tiền bạc, về tính tình, có thì cho người khác. Tính rộng rãi của họ không phải ai xin cũng được, ai hỏi cũng cho như tuổi Canh-Tý. Nhâm-Tý xét người nào đáng cho, cho bao nhiêu để có lẽ công-bằng. Ai muốn lợi dụng tính rộng rãi của Nhâm-Tý rất khó, càng khó qua mặt họ bất cứ điều lớn điều nhỏ.
6.5. Tuổi Nhâm-Tý dễ tha thứ, nhưng dễ tha thứ của Nhâm-Tý khác với Bính-Tý. Bính-Tý sẽ tha thứ khi người phạm lỗi biết sửa đổi, hoặc hối hận. Còn Nhâm-Tý chỉ tha thứ khi người phạm lỗi đã sửa đổi. Cho nên người ta thường nói tuổi Nhâm-Tý khó tính hoặc chặt chẽ. Nhưng không phải thế. Nhâm-Tý là tuổi điều-hòa vạn-vật, nên khi con người chưa sửa đổi, là chưa hòa hợp với vạn-vật, thì Nhâm-Tý còn bắt sửa đổi.
7. Tuổi Nhâm-Tý thì Hóa-lộc đóng với Thiên-lương. Hóa-quyền đóng với Tử-vi. Hóa-khoa đóng với Thiên-phủ. Người có số Tử-vi thuộc Văn-đoàn (Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương) được Hoá-lộc. Người có cách Đế-tượng (Tử, Phủ, Vũ, Tướng) thì được Khoa, Quyền. Cho nên dù Văn-đoàn, Đế-tượng Nhâm-Tý cũng có những loại người xuất chúng. Chỉ có người nào thuộc Võ-cách ( Sát, Phá, Tham) là không khá. Không khá là so với các cách của Nhâm-Tý. Chứ so với các tuổi khác, cũng Võ-cách thì Nhâm-Tý vẫn vượt rất xa.
8. Tuổi Nhâm-Tý có nhiều loại người, họ làm nhiều nghề khác nhau, nhưng họ là những người đa năng.
8.1. Sao chủ tài sản là Lộc-tồn của Nhâm-Tý, đóng ở cung Hợi, có sắc thái đặc biệt. Lộc-tồn thuộc Thổ, cung Hợi thuộc Thủy, nghĩa là Lộc-tồn khắc bản cung. Ví như nhà làm trên bãi cát, không vĩnh-cửu, nên trọn đời họ mất nghiệp (tài-sản) mấy lần. Họ gây tài-sản rất mau. Nhưng mất cũng mau.
8.2. Thiên-khốc, Thiên-hư đóng tại Ngọ, là hai sao chủ nghèo-khó thời trẻ, về già mới giàu, áp dụng vào Nhâm-Tý quả đúng. Hồi trẻ, họ làm ăn khá giả, xụp đổ, rồi xây dựng lại... mấy lần. Phải ra từ 45 tuổi trở đi mới tạm yên. Thậm chí có một số người trên 60 tuổi còn bôn tẩu. Những người mệnh lập tại Dần, Ngọ, Tuất thực là vất vả, nghèo khốn trong thủa thiếu thời, vì sao Khốc, Hư đóng ở mệnh, tài, quan.
9. Tóm lại Nhâm-Tý là tuổi tự biết mình, biết người, biết sự vật.
– Họ lại có năng khiếu dung hòa mâu-thuẫn trong nội-tâm.
– Họ hành-sự hợp qui luật biến hóa của vũ-trụ, ứng-dụng luật để điều hòa vạn-vật.
– Họ đại-lượng, rộng rãi, biết giới-hạn cái lượng hầu không vô-lý.
– Thủa trẻ họ nghèo khó, lập nghiệp gian nan, mất nghiệp nhiều lần, khi đứng tuổi mới tạm yên.
– Muốn lôi kéo tuổi Nhâm-Tý cần biết tôn-trọng qui-luật thiên-nhiên của trời đất, của Nhâm-Tý đặt ra.
– Phụ-nữ Nhâm-Tý thường có chí-khí như nam-nhi. Thời hoa-xuân họ có cử-chỉ như con trai, mất tính chất dịu dàng của phụ-nữ. Nhưng đổi lại họ đầy năng-lực, thích làm việc.

 Học Phong Thủy