Thứ Tư, 3 tháng 4, 2013

TUỔI NHÂM TÝ PHẦN 7


TUỔI NHÂM TÝ
Mệnh Tang Đố Mộc (Gỗ cây dâu)
Sinh từ :
19 tháng 3 năm 1912 đến 8 tháng 3 năm 1913
15 tháng 2 năm 1972 đến 30 tháng 4 năm 1973

 Học Phong Thủy

IX. BỆNH TẬT TUỔI NHÂM TÝ
1. Tuổi Nhâm-Tý mạng mộc, trong học thuyết Âm-D ương, Ngũ-hành liên hợp với :
Ngũ-khí : Phong.
Ngũ-hoá : Sinh.
Tạng-phủ : Can, đởm. Liên hợp với túc Thiếu-dương đởm kinh và túc Khuyết-âm can-kinh.
Ngũ quan : Mắt.
Hình thể : Gan.
2. Bản mệnh là con người, con người Nhâm-Tý thuộc mộc. Được Can Nhâm thuộc thủy, Chi Tý thuộc thủy, sinh ra bản mệnh. Tuổi Nhâm-Tý cung Dần, Mão thuộc mộc, gặp cả Tuần, lẫn Triệt, nên dù Can, Chi sinh ra bản mệnh cũng không tránh được tai ương, bệnh tật.
3. Về phương diện y-học thì can và đởm là hai tạng phủ tương thông biểu lý. Can thuộc Âm thu ộc tạng, Đởm thuộc dương thuộc phủ. Can thuộc lý thuộc bên trong, đởm thuộc biểu thuộc bên ngoài. Khi bệnh cập can thì ảnh hưởng đởm và ngược lại.
4. Về phương diện sinh lý thì can chủ về sơ tiết :
Sơ tức là thông, tiết tức là tiến tới.
Như vậy có hai loại bệnh, một là bệnh thần chí và hai là bệnh về đường tiêu hoá :
4.1. Về vấn đề tình chí.
– Sự hoạt động của tình chí, do thần biểu hiện ra ngoài. Vậy thần tức là tinh khí hiện ra ngoài của cơ thể, quan sát thần thì biết tinh khí thịnh, suy. Thần của con người theo y học Á-châu là do tâm can. Các hoạt động tinh thần thuộc vào sự sơ tiết thông đều của can.
– Khi công năng của can chính thường, thì khí cơ thông sướng, khí huyết sung doanh, tâm thần thư thái.
– Nếu công năng của can bất thường khiến tình chí biến hoá, sinh ra nóng nảy, dễ giận, dễ hờn, dễ gắt gỏng.
– Khi can khí bị kết lại, thì :
Mạn sườn căng trướng.
Uất ức, hay lo nghĩ, nặng thì lúc nào cũng muốn khóc, làm việc gì cũng muốn mau.
Đầu nhức, căng trướng.
Lồng ngực đầy, chóng mặt.
– Ngược lại khi tinh thần bị kích thích, giận hờn, uất ức chồng chất, dồn ép quá độ, nếu không tiêu giải được sẽ xuất hiện tình trạng can khí bị kết, khí cơ không điều sướng. Vậy bệnh can đưa tới bệnh thần chí và ngược lại bệnh thần chí cũng đưa tới bệnh can.
4.2. Về phương diện tiêu hóa.
Công năng của can là hiệp điều với tỳ vị để tiêu hoá thực vật. Khi công năng của can bất thường, kéo theo tỳ vị bất thường. Việc tiêu hoá thực vật hổn loạn. Ẩm, th ực là gốc hậu thiên khí. Ăn uống thực vật béo bổ đến đâu chăng nữa, mà tiêu hóa bị hỗn loạn thì hậu thiên khí cũng bị hỗn loạn. Vậy khi công năng của can hỗn loạn, đưa đến các chứng :
– Huyết ô.
– Đại tiện chảy, hoặc kết bón, v.v...
4.3. Can chủ tàng huyết
Công năng của can là tàng chứa huyết dịch, điều hòa lượng huyết. Khi can có bệnh, công năng tàng huyết thất thường, ảnh hưởng đến hoạt động nhân thể, đồng thời sinh bệnh huyết dịch. Can huyết bất túc, thì hai mắt nhìn vật mơ hồ, các móng chân tay bất lợi, phụ nữ kinh nguyệt ít, nặng thì bế kinh, khi can khí thượng nghịch, đưa đến thổ huyết, xuất huyết, phụ nữ tử cung xuất huyết, hoặc lồng ngực căng đau, thống kinh, bế kinh hay tuyệt kinh.

 Học Phong Thủy


5. Can chủ gân. Hoa của gan là móng chân tay : Gân, móng, sụn là do can huyết nuôi dưỡng. Công năng của gan chính thường, gân-móng thọ lãnh huyết dịch, cơ thể khang kiện. Khi gan huyết bất túc, huyết không nuôi dưỡng được gân-móng, đưa đến chân tay run rẫy, tê dại, móng chân tay bất lợi, hàm răng mỏi mệt hoặc cắn chặt không mở ra được.
6. Gan khai cùng ở mắt.
Quan của gan là mắt. Khi gan có bệnh, thì ảnh hưởng tới mắt.
7. Những người mạng mộc, bản chất bệnh thường do gốc ở gan. Bệnh gan sinh ra thường thấy :
7.1. Gan khí kết đóng
– Tinh thần thất thường, dễ nổi giận.
– Lồng ngực căng.
– Thích thở dài.
– Bụng dưới căng đau.
– Đau bụng kinh.
– Kinh nguyệt không đều.
– Hoặc trong cổ hầu như mắc nghẹn, nuốt không xuông.
7.2. Gan hỏa bốc lên
– Nhức đầu.
– Chóng mặt.
– Tai kêu.
– Mặt đỏ, mắt đỏ.
– Hầu khô đau.
– Nóng nảy, dễ nổi giận.
– Mất ngủ, hoặc ác mộng.
– Thổ huyết, tiện huyết.
– Các chứng huyết áp cao (Hypertention artérielle) 95% do can hỏa.
7.3. Gan huyết bất túc
– Sắc mặt trắng bệch.
– Chóng mặt, mộng nhiều.
– Tai kêu, mắt khô.
– Nhìn vật mơ hồ, hoặc chân tay tê dại, hoặc gân mạch co rút.
– Móng chân tay không tươi.
– Phụ nữ kinh ít, hoặc tuyệt kinh.
7.4. Gan dương thượng thăng
– Chóng mặt, tai kêu.
– Đầu nhức căng trướng.
– Mặt đỏ, mắt đỏ.
– Dễ nổi giận, mất ngủ mộng nhiều, mất trí nhớ hay sợ sệt, đau lưng.
7.5 Gan phong nội động
– Chóng mặt ngã ra.
– Đầu nhức như búa bổ.
– Chân tay co giật.
– Ngôn ngữ bất lợi.
– Đôi khi hôn mê, lưỡi cứng, miệng méo, mắt trợn ngược bán thân bất toại.
8. Đại loại những người mạng mộc thường sinh các chứng trạng trên, đó là những chứng bệnh căn bản. Còn những bệnh do vi trùng, là bệnh thời khí, phải căn cứ vào vận hạn mới biết.

 Học Phong Thủy


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét