Thứ Ba, 26 tháng 2, 2013

II. TƯƠNG QUAN TUỔI TÝ VỚI CÁC KHOA HỌC

Học Phong Thủy


Âm dương: thuộc dương
Ngũ hành: thuộc dương thủy
Ngũ quý: thuộc mùa Đông
Ngũ phương: thuộc phương Bắc
Ngũ khí: thuộc hàn (lạnh)
Ngũ hóa: thuộc tàng (ẩn, dấu)
Ngũ sắc: thuộc màu đen
Ngũ vị: thuộc hàm (mặn)
Lục phủ: thuộc bàng quang. Liên hợp với túc Thái Dương bàng quang kinh
Ngũ tạng: thuộc thận. Liên hợp với túc Thiếu Âm thận kinh
Ngũ quan: thuộc nhĩ (tai)
Hình thể: thuộc cốt (xương)
Tình chí: thuộc khủng (sợ)
Thời gian: giờ từ 23 tới 1 giờ. Tháng thuộc tháng 11 âm lịch
Con vật tượng trưng: con chuột
Đối vị: Tý đối vị với Ngọ. Ngọ thuộc dương, thuộc hỏa. Tý thuộc dương, thuộc thủy. Tuy cả hai cùng dương, song thủy hỏa tương khắc. Tý khắc Ngọ. (8)

Học Phong Thủy


I. ĐẠI CƯƠNG VỀ TUỔI TÝ

Học Phong Thủy

Trong mười hai chi, Tý đứng đầu. Đứng đầu, có nghĩa khởi từ đấy, như một ngày, khởi từ giờ Tý; chứ không phải tuổi Tý lớn hơn hết các tuổi khác. Tý thuộc dương, thuộc Thủy. Khoa Tử Vi gọi Tý là tuổi dương thủy. Trước hết hãy phân tích yếu tố âm dương.
Âm dương là học thuyết tổng quan tất cả các khoa học Á châu như y học, dược học, Thiên Văn, Lịch Số, võ học và Khoa Học Huyền Bí. Nói về học thuyết Âm Dương thực dài. Ở đây chỉ lược qua mà thôi.
Âm dương là học thuyết hỗ tương đối vị của sự vật và hiện tượng. Nói khác đi, đó là hai sự vật hỗ tương đối vị, bất đồng tính chất.
Trong thế gian, sự, vật phân như sau:
“Than dương vi thiên,
Trọc âm vi địa.
Địa khí thượng vi vân,
Thiên khí hạ vi vũ.” (1)
Nghĩa là: Phần trong của dương là trời. Phần đục của âm là đất. Khí của đất bốc lên thành dương. Khí trời đọng lại rơi xuống thành mưa.
Trong vũ trụ, có những sự vật tự nhiên đối vị thành âm, dương. Tỷ như:
Ban ngày trời sáng là dương.
Ban đêm trời tối là âm.
Viêm nhiệt là dương.
Hàn lãnh là âm.
Hoạt động là dương.
Tĩnh chỉ là âm. (2)
Khi áp dụng trong khoa học Tử Vi, học thuyết Âm Dương trở thành:
“Trong mười hai chi, thì Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất thuộc dương. Trong mười can, thì Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm thuộc dương. Một chi dương với một can dương hợp thành tuổi dương” (3).
Vì vậy chúng ta có các tuổi Giáp Tý, Bính Tý, Mậu Tý, Canh Tý, và Nhâm Tý. Trong tập sách này, nghiên cứu về năm tuổi Tý trên.

Học Phong Thủy

Tuổi dương Tý có đặc tính gì?
1. Dương chủ động.
“Dương chủ động. Âm chủ tĩnh. Vì vậy người tuổi dương hiếu động hơn tuổi âm. Như người tuổi Mậu Tý, Kỷ Sửu, bản mệnh đều thuộc Tích lịch hỏa. Thế nhưng người tuổi Mậu Tý linh lợi, hoạt động hơn tuổi Kỷ Sửu” (4)
2. Dương chủ nóng nảy.
“Người tuổi dương, tính tình nóng nảy hơn người tuổi âm. Họ thiếu đức kiên nhẫn, chịu đựng. Ngược lại họ hành sự mau chóng. Quyết đoán dễ dàng” (5)
3. Dương chủ thăng tiến.
“Dương chủ thăng lên. Âm chủ giáng xuống. Người tuổi dương lúc nào cũng cầu tiến. Họ ít chịu an phận. Đôi khi gặp sát tinh, họ trở thành người quá khích, hay ganh tỵ, đua đòi” (6)
“Tuổi Tý thuộc dương thủy. Dương chủ nóng, thủy chủ lạnh. Dương chủ cứng. Thủy chủ dịu. Vì vậy người tuổi Tý hành sự cương quyết, khôn ngoan linh lợi. Nhưng họ không quá nóng nảy, khô khan, cứng rắn. Họ biết uyển chuyển, cân nhắc, để đi đến thành công” (7)

Học Phong Thủy


XI. KẾT LUẬN


Học Phong Thủy

XI. KẾT LUẬN
Tử Vi không phải là một khoa học độc lập, nó là kết tinh của nhiều khoa học khác trong học thuật tư tưởng Á Châu. Người sáng lập ra không phải là Hy Di tiên sinh. Ông chỉ là một người kết hợp các khoa lại. Chính ông, ông cũng công nhận khoa này có trước ông. Ông chỉ là người bổ túc và đưa nó trở thành một khoa nổi tiếng. Khoa Tử Vi truyền vào Đại Việt thời Lý do Trần Tự Mai hay do Hoàng Bính mang vào, không cần thiết. Dù Tự Mai hay Hoàng Bính thì Tử Vi đó cũng thuộc chính phái. Nhưng bí truyền trong dân gian. Đợi mãi đến khi Lê Quí Đôn đi sứ Trung hoa về mang theo bộ Tử Vi của Nam phái, bấy giờ khoa Tử Vi mới được đại chúng hóa. Nhưng cũng chính vì vậy khoa Tử Vi ở Việt Nam có hai trường phái: Một trường phái chính học rất mau, theo sát Hy Di tiên sinh. Một trường phái nữa ảnh hưởng Nam phái, vì thất truyền, thành ra không có hệ thống nào cả. Những người nghiên cứu Tử Vi cần phân biệt rõ hai hệ thống, để lúc học mới khỏi bở ngỡ. Tuy nhiên không phải những sách vở nào của Nam phái cũng hỗn tạp, không phải những vị nào của Nam phái đều đoán liều cả. Tử Vi cũng như y học, cần đi đến đối tượng là kết quả, ai đoán trúng, người đó đạt được học thuật. Cũng như y học nói, viết không phải là cứu cánh, mà ai trị khỏi bệnh, người ấy có lý.
Một vấn đề trước mắt của chúng ta là, làm sao có đủ sách vở cho các vị nghiên cứu tìm hiểu. Sách vở của cổ nhân chỉ là nền móng lúc đầu. Tại sao xưa kia Hy Di tiên sinh đã tìm ra được nhiều nguyên lý khác. Cái xe hơi thế kỷ 18 thô sơ, người sau cải tiến dần, nay trở thành những xe tối tân. Tử Vi là khoa học, chúng ta có thể tìm thêm, cứu rộng, để đưa ra những phát hiện mới; bấy giờ mới đi tìm vận số con người, lại có thể đi xa hơn, phát triển phá cách, trợ cách, một lối phát huy độc đáo đời Trần, cần được đào sâu, để đạt đến tuyệt đích khoa học vậy.
Viết tại Bruxelles, mùa đông, Tân Dậu (1981)
Trần Đại Sỹ

Học Phong Thủy


X. DỊ BIỆT CHÍNH, NAM PHÁI

Học Phong Thủy
A. SỰ KHÁC BIỆT VỀ SỐ SAO
1. BỘ TỬ VI CHÍNH NGHĨA. Được coi như là chính thư. Không nói về số sao. Song xét trong mục dậy an sao thì có 93 sao. Nhưng những lá số phụ lục thì chỉ chép có 89 sao. Không thấy an sao Thiên thương, Thiên sứ, Thiên la, Địa võng. Điều này dễ hiểu bởi 4 sao trên đều ở vị trí cố định, không cần thiết an vào. Theo Hy Di tiên sinh thì 93 sao đó là:
a.    CÁC CHÒM.
Tử Vi. (6 sao)
·         Tử Vi
·         Thiên Cơ
·         Thái Dương
·         Vũ Khúc
·         Thiên Ðồng
·         Liêm Trinh
Thiên Phủ  (8sao)
·         Thiên Phủ
·         Thái âm
·         Tham Lang
·         Cự môn
·         Thiên Tướng
·         Thiên Lương
·         Thất Sát, Phá Quân.
Thái Tuế (5 sao)
·         Thái Tuế
·         Tang Môn
·         Bạch Hổ
·         Điếu khách
·         Quan phù.
Lộc Tồn  (17 sao)
·         Lộc Tồn
·          Kình dương
·         Đà la
·         Quốc ấn
·         Đường phù
·         Bác sĩ
·         Lực sĩ
·         Thanh long
·         Tiểu hao
·         Tướng quân
·         Tấu thủ
·         Phi liêm
·         Hỷ thần
·         Bệnh phù
·         Đại hao
·         Phục binh
·         Quan phủ.
Trường Sinh (12 sao)
·         Trường sinh
·         Mộc dục
·         Quan đới
·         Lâm quan
·         Đế vương
·         Suy
·         Bệnh
·         Tử
·         Mộ
·         Tuyệt
·         Thai
·         Dưỡng.
b.    CÁC SAO AN THEO THÁNG -  7 sao:
·         Tả phù
·         Hữu bật
·         Tam thai
·         Bát tọa
·         Thiên Hình
·         Thiên riêu
·         Đẩu quân.
c.    CÁC SAO AN THEO GIỜ -8 sao :
·         Văn xương
·         Văn khúc
·         Ấn quang
·         Thiên quí
·         Thai phụ
·         Phong cáo
·         Thiên Không
·         Địa kiếp.
d.    TỨ TRỢ TINH- 4 sao :
·         Hóa khoa
·         Hóa Quyền
·         Hóa Lộc
·         Hóa Kị.
e.    CÁC SAO AN THEO CHI- 17 sao:
·         Phong trì
·         Phượng các
·         Thiên đức
·         Nguyệt đức
·         Hồng loan
·         Thiên hỉ
·         Thiên mã
·         Hoa cái
·         Đào Hoa
·         Phá toái
·         Kiếp sát
·         Cô thần
·         Quả tú
·         Hỏa tinh
·         Linh tinh
·         Thiên khốc
·         Thiên hư.
f.     CÁC SAO AN THEO CAN - 5 sao :
·          Lưu hà
·         Thiên khôi
·         Thiên việt
·         Tuần không
·         Triệt không.
g.    CÁC SAO CỐ ĐỊNH -  4 sao :
·         Thiên thương
·         Thiên sứ
·         Thiên la
·         Địa võng.
2. BỘ TRIỆU THỊ MINH THUYẾT TỬ VI KINH. Đều ghi có 93 sao, giống như bộ Tử Vi Chính Nghĩa.
3. BỘ TỬ VI ĐẠI TOÀN. Ghi rõ ràng rằng trong lá số phải có 93 sao như Hy Di tiên sinh, kỳ dư an thiếu, đủ hay khác đi đều là tạp thư, ma thư của bọn thuật sĩ bịa đặt để lửa nhau, còn giả đạo đức tỏ ra là người bác học, song chẳng qua là phường lưu manh (!).
4. BỘ TỬ VI ĐẨU SỐ TOÀN THƯ. Nói về số sao rất lờ mờ. Phần dạy cách an sao, có ghi rõ 85 sao. Các sao cũng giống như ba bộ trên. Duy thiếu các sao sau đây: Đào Hoa, Phá toái, Kiếp sát, Ấn quang, Thiên quí, Cô thần, Quả tú và Lưu hà. Nhưng khi đọc bài phú nói về các sao, thì lại thấy nói tới Đào Hoa, Ấn quang, Thiên quí v.v.
5. BỘ ĐÔNG A DI SỰ. Thấy ghi đúng 93 sao như bộ trên, nhưng khi xét lá số để chiêm nghiệm thì thấy thiếu các sao: Bác sĩ, Thiên la, Địa võng, Thiên thương, Thiên sứ. Có lẽ các Tử Vi gia đời Trần quan niệm rằng các sao trên đều ở vị trí cố định, nên không cần an vào như sao Bác sĩ bao giờ cũng đóng chung với sao Lộc Tồn. Sao Thiên thương bao giờ cũng ở cung Nô, sao Thiên sứ bao giờ cũng ở cung Tật ách và sao Thiên la bao giờ cũng ở cung Thìn, sao Địa võng bao giờ cũng ở cung Tuất.
Trên đây là các bộ chính thư, dưới đây là các bộ tạp thư:
6. BỘ TỬ VI ÂM DƯƠNG CHÍNH NGHĨA BẮC TÔNG. Thấy ghi đến 104 sao. Các sao cũng giống như chính thư cả về số sao cũng như cách an sao, song thêm các sao sau đây: Thiên tài, Thiên thọ, Thiên y, Thiên trù, Thiên giải, Địa giải, Giải thần, Thiên lộc, Lưu niên văn tinh, Thiên quan quí nhân, Thiên phúc quí nhân.
7. BỘ TỬ VI ÂM DƯƠNG CHÍNH NGHĨA NAM TÔNG. Ghi tới 128 sao, các sao cũng giống như bộ Bắc tông nhưng thêm các sao sau đây: 24 sao là Thái túc, Thiên xá, Niên khôi, Nguyệt khôi, Niên thổ khúc, Nguyệt thổ khúc, Thiên thương (nghĩa là kho lúa, khác với Thiên thương ở cung nô như vậy trong lá số có 2 Thiên thương,) Thiên Phủ khố, Thiên tiễn, Địa Không, Hồng diệm, Phù trầm, Sát nhận. Vòng Thái Tuế được thêm vào 7 sao nữa cho đủ 12 sao, đó là các sao Thiế dương, Thếim âm, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Phúc Đức, Trực Phù. Tứ phi tinh: Thiên trượng, Thiên dị, Mao đầu, Thiên nhận.
8. BỘ TỬ VI THIỂN THUYẾT. Gồm có 128 sao, giống như bộ Nam tông, nhưng thêm vào 13 sao nữa rất quái dị, không có trong Thiên Văn mà chỉ thấy trong tiểu thuyết thần kỳ chí quái, ma trâu đầu rắn. Đó là các sao: Nam cực, Đông đẩu tinh quân, Bắc đẩu tinh quân, Nam đẩu tinh quân, Tây đẩu tinh quân, Cửu thiên huyền nữ, Đao trì kim mẫu, Vũ tinh, Lôi tinh, Thiên vương tinh, Địa tạng tinh, Thái bạch kim tinh.
9. BỘ LỊCH SỐ TỬ VI TOÀN THƯ. Số sao cùng giống như bộ Tử Vi thiển thuyết song dạy an sao ngược lại với các bộ trên: như sao Trường sinh không những chỉ an ở Dần, Thân, Tị, Hợi mà còn thấy ở Tí, Ngọ, Mão, Dậu. Vòng Tử Vi an xuôi, vòng Thiên Phủ an ngược. Số sao cũng có 128 mà thôi.

Học Phong Thủy


B. SỰ KHÁC BIỆT VỀ SAO LƯU NIÊN
1. CHÍNH THƯ. Các sao lưu niên đều an giống nhau, số sao cũng giống nhau:
- Vòng Lộc Tồn với 15 sao, không có Quốc ấn, Đường phù. (Bộ Tử Vi đẩu số toàn thư chỉ nói đến hai sao Kình, Đà thôi.
- Thiên khôi, Thiên việt, Thiên mã, Thiên khốc, Thiên hư và vòng Thái Tuế 5 sao, Văn xương, Văn khúc.
Tất cả 27 sao.
2. TẠP THƯ. Vẫn gồm các sao như bộ chính thư nhưng thêm: Hỏa huyết, Lan can, Quân sách, Quyện thiệt, Bạo tinh, Thiên ách, Thiên cẩu, Huyết nhận, Huyết cổ, Ngũ quỉ, và vòng Trường sinh 12 sao.
C. SỰ KHÁC BIỆT VỀ ĐẠI HẠN
Chính phái an đại hạn như sau:
- Từ lúc đẻ ra, tới số cục thì an tại cung mệnh.
Đại hạn thứ nhất sẽ an vào cung phụ mẫu hoặc huynh đệ.
Tỷ như: Người Hỏa lục cục, thì từ 1 tới 5 tuổi đại hạn ở cung mệnh. Từ 6 tuổi trở đi thì đại hạn ở cung huynh đệ hoặc phụ mẫu. Nhưng Nam phái lại an ngay đại hạn thứ nhất ở cung mệnh rồi đại hạn thứ nhì ở cung phụ mẫu hoặc huynh đệ. Như vậy từ lúc đẻ ra cho tới số tuổi “số cục” không có đại hạn.
Sự khác biệt đại hạn này, đã khiến cho Nam phái phải đi tìm nhiều sao khác, hoặc nhiều thuật khác, để đoán cho đúng, nhất là đoán vận hạn chết, rất quan trọng. Bắc phái đoán rất đúng, nhưng theo Nam phái lại khó khăn.
Sự khác nhau về hạn, khiến cho Nam phái không thể dùng các bài phú đoán của Hy Di tiên sinh được. Bởi phú đoán thì an đại hạn theo Bắc phái. Những người học theo Nam phái, thường tỏ ý nghi ngờ các bài phú. Họ phải dò dẫm tìm hiểu, nghiên cứu lâu năm mới đưa ra lối giải quyết. Trong khi những người học theo Bắc phái, thì sau khi học an sao, họ có thể học giải đoán bằng cách xử dụng phú đoán được.
Tỷ dụ. Chính phái, đoán số Hạng Vũ, căn cứ vào phú đoán:
Hạng Vũ Anh Hùng hạn ngộ Thiên Không nhi táng quốc. Thạch Sùng hào phú, vận phùng địa, kiếp dĩ vong gia.
Nghĩa là Hạng Vũ Anh Hùng, nhưng hạn ngộ Thiên Không nên mất nước. Thạch Sùng giàu có nhưng hạn gặp Đại kiếp nên tan nát nhà cửa.
Nếu xét theo Nam phái thì câu phú trên không đúng được.
- Thứ nhất là trong Bắc phái chỉ có sao Thiên Không, Đại kiếp đi đôi với nhau, không có sao Địa Không. Sao Thiên Không không đóng ở vị trí sao Địa Không của Nam phái và không có sao Thiên Không trước Thái Tuế một cung.
Hạng Vũ, đại hạn tới Dần gặp Địa kiếp, tiểu hạn ở Thân gặp Thiên Không. Đại tiểu hạn Kiếp, Không gặp nhau nên táng quốc. Dù đại hạn có Đồng, Lương, Quyền không giải nổi.
Bàn về số Thạch Sùng cũng tương tự. Nếu đoán theo Nam phái, bài phú trên không đúng:
- Đại hạn đang ở cung Mão, gặp Thái Tuế, mà Thiên Không đóng ở Thìn.
Như vậy không có vụ Hạng Võ chết về “Kiếp, Không lâm nạn, Sở vương táng quốc.” Mà chỉ có việc Hạng Võ gặp hạn Địa Không ở Thân mà thôi.
Hồi còn ở Việt Nam, chúng tôi dạy Tử Vi cho các vị yêu khoa này, thường thì những vị chưa biết gì học mau hơn. Còn các vị học theo Nam phái, học thêm mấy chục bài phú nữa, mất công chỉnh đốn lại. Bởi vậy chúng tôi có lời khuyên: Các vị học theo Nam phái thì không nên học những bài phú của Hy Di, mà nên học những bài phú của Ma Y thuộc Nam phái mà thôi. Nếu không đầu óc lộn tùng phèo.
D. SỰ KHÁC BIỆT VỀ AN SAO
Trong 93 tinh đầu, không có sự khác biệt. Nhưng duy sau này mấy bộ tạp thư đưa ra an những sao mới, hoàn toàn do họ đặt ra, có sự quái gở khi an vòng Trường sinh. Họ khởi Trường sinh cả ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu.
Về an Khôi, Việt, thì chính thư, tạp thư chỉ khác nhau có tuổi Canh mà thôi. Chính thư thì Khôi ở Sửu, Việt ở Mùi. Trong khi tạp thư thì cho ở Dần, Ngọ. Về an thứ hóa thì tuổi Canh cũng bị lộn như Hóa Lộc đi với Thái Dương, Hóa Quyền đi với Vũ khúc, Hóa khoa đi với Thiên Đồng và Hóa Kị đi với Thái âm. Trong khi tạp thư lại an Hóa khoa đi với Thái âm, trong khi Hóa Kị đi với Thiên Đồng.
E. ĐỐI VỚI CÁC SÁCH TỬ VI HIỆN ĐẠI
Trừ bộ Tử Vi đẩu số toàn thư do Vũ Tài Lục lược dịch một vài đoạn, đúng với chính thư, còn các sách khác, chúng tôi không tiện phân tích xem sách của vị nào ảnh hưởng của phái nào bên Trung quốc!
Vân Điền Thái Thứ Lang là một đại đức phật giáo, ông bị tử nạn xe hơi đã lâu, nên chúng tôi có thể bàn về sách của ông. Sách của ông gần với chính phái. Vũ Tài Lục là con của cụ Kép Vũ Huy Chiểu, hiện ở Hoa Kỳ. Hà Lạc dã phu hiện cũng ở Hoa Kỳ, đang làm chính trị. Còn ông Nguyễn Phát Lộc với chúng tôi có chút duyên văn nghệ, trước đây ông là phó đặc ủy Trung ương tình báo VNCH, không rõ nay đâu, nếu ông còn ở VN thì có lẽ đã bị giết rồi.
Chúng tôi quan niệm dù tất cả Tử Vi gia thuộc phái nào chăng nữa, cũng cần có kinh nghiệm. Về phương diện nghề nghiệp, họ phải dùng đến coi Tử Vi lấy tiền làm kế sinh nhai là bất đắc dĩ, bởi bỏ tâm não ra, an sao, chấm số, giải đoán một lá số Tử Vi, không tiền nào, bạc nào trả nổi họ cả. Dù không trả tiền, với tinh thần khoa học, họ cũng say mê nghiên cứu. Chính chúng tôi, kiếm tiền rất dễ dàng, nhưng khi thấy một lá số kỳ lạ, cũng chẳng ngần ngại gì mà không bỏ ra cả ngày ngồi nghiền ngẫm cho ra nguyên lý. 

Học Phong Thủy


Khoa Tử Vi 2


Học Phong Thủy

VIII. KHOA TỬ VI ĐỜI TRẦN
Hầu hết những bậc vua chúa, vương hầu nhà Trần đều nghiên cứu Tử Vi, để làm chìa khóa để biết kẻ trung, người nịnh, biết vận hạn, mưu đồ đại sự.
Như khi triều đình đang phân vân không biết nên hòa với Mông Cổ, cho Mông Cổ mượn đường đánh Chiêm Thành, hay nhất định chống lại. Vua Anh Tông do dự không quyết. Huệ Túc phu nhân đã chấm số cho tất cả vua, hoàng hậu, vương hầu, tướng sĩ, thấy đa số là những vĩ nhân, làm lên những chuyện kinh thiên động địa. Có một số bị chết thảm, nhưng tiếng tăm vang dậy. Phu nhân quyết đoán rằng: Nên đánh. Bởi đánh thì sẽ thắng, thắng các vương hầu mới có những sự nghiệp vĩ đại như vậy. Một vài người tuy tuẫn quốc thực, nhưng danh thơm muôn thuở.
Có ai ngờ việc quyết định vận số quốc gia như thế, mà do khoa Tử Vi chiếm một phần.
Khoa Tử Vi đời Trần cũng dựa theo bộ Tử Vi Chính Nghĩa rồi nghiên cứu rộng ra về phá cách và trợ cách.
Tỷ dụ: Tử Vi Kinh nói rằng Thiên Hình, Thất Sát cương táo nhi cô. Nghĩa là người có Thiên Hình, Thất Sát thủ mệnh vì tính tình nóng nảy, cứng rắn quá mà hóa cô độc. Muốn khuyên răn, chế ngự bớt sự cuồng táo đó, phải dùng người có mệnh Thái Dương, Thiên Đồng, Thiên Lương, Văn xương, Văn khúc, Đào Hoa, Hồng loan. Bởi các sao này có thể giảm sức nóng nảy của Hình, Sát. Tuyệt đối không dùng người mệnh có Kiếp, Không, Kình, Đà, Tang, Hổ đã đành mà còn tránh dùng người mệnh có Tử Vi, Thiên Phủ, bởi vì Phủ kị Hình, Sát.
Như muón phá người mệnh có Tử, Phủ thì dùng người có Kiếp, Không, Kị, Hình thủ mệnh. Tử, Phủ thì ngay thẳng. Kiếp, Không thì gian trá, tiểu nhân. Vậy dùng những mánh lới hạ cấp sẽ làm cho người Tử, Phủ khốn khổ v.v.
Khoa Tử Vi còn đi sâu hơn nữa. Như người có cung Phúc Đức tại Thìn, được Thái Dương tọa thủ, tức là được hưởng phúc ngôi mộ ông hoặc bố. Muốn phá người đó, thì dùng cách ếm ngôi mộ ông nội hay cha y, thì y khốn khổ ngay. Lối này trước đây người ta đã dùng để ếm mộ ông nội nhà văn Phạm Quỳnh, sau này ếm mộ nhà Ngô. Khi cố tổng thống Ngô Đình Diệm tại vị, nhiều người thù ghét, sau biết ngôi mộ cụ tổ được “Long phụng triều” thì con trai, con gái, con dâu sự nghiệp đều được vĩ đại cả. Người ta đã ếm mộ này. Thành ra khi con long bị đau, nó dẫy lên, lại một người nam bị nạn, khi con phụng đau dẫy lên, thì có một người nữ bị nạn.
Cái lối ếm này rất thất đức, nên chúng tôi không trình bày chi tiết vào đây. Tỷ dụ: Nhà Trần đã dùng lối ếm đó, để triệt hạ giòng dõi Chế ở Chiêm Thành. Trần Khắc Chung vì thương yêu Huyền Trân công chúa, mà công chúa bị triều đình gả cho Chế Mân, Khắc Chung tìm biết số Tử Vi của Chế Mân, rồi tìm ngôi mộ cung Phúc Đức ếm, chỉ một năm sau Chế Mân chết.

Học Phong Thủy


IX. KHOA TỬ VI CÁC ĐỜI SAU
Khi nhà Trần bị nhà Hồ cướp ngôi (1400), con cháu họ Trần tản mác khắp nơi, có người dùng khoa Tử Vi làm kế sinh nhai, khoa này đã do nẻo đó truyền ra khắp dân chúng.
Tương truyền, Trần Nguyên Hãn, một danh tướng giúp vua Lê Thái Tổ đánh đuổi quân Minh. Nhưng ông là cháu nội của Trần Nguyên Đán, một vị tể tướng cuối đời Trần, nên khi đuổi giặc Minh rồi, vua Lê Thái Tổ muốn giết ông. Ông biết ý, nói với bạn bè rằng: Ông xem số của Lê Thái Tổ là chỉ có thể ở với nhau khi hoạn nạn, lúc đại nghiệp thành thì nhà vua sẽ giết công thần. Vì vậy ông cáo quan về ở ẩn trong dân. Tuy vậy, nhà vua vẫn sai 42 vệ sĩ xá nhân về quê bắt ông. Khi đi đường về kinh, ông dùng võ giết các xá nhân rồi trốn đi (Sử chép thuyền chìm, xá nhân và ông đều chết hết.) Ông trốn vào Thanh hóa, ếm ngôi mộ kết long mạch của nhà Lê, nên sau khi vua Lê Thái Tổ chết, tiếp theo vua Lê Thái Tông bị thượng mã phong mà băng lúc 20 tuổi. Con vua Lê Thái Tông mới hai tuổi lên ngôi vua, sau cũng bị anh Lê Nghi Dân giết chết.
Một giai thoại nữa diễn ra dưới triều Lê:
Khi Lê Thái Tổ thành đại nghiệp, về quê tế tổ, một ông lão người cùng quê hỏi rằng:
- Tôi với bệ hạ, sinh cùng ngày, cùng giờ, cùng tháng, cùng năm, cùng quê, thế sao bệ hạ làm vua, mà tôi thì vẫn là dân?
Trần Nguyên Hãn đáp:
- Đó là cung phúc cả. Cung phúc của chúa tôi với ông đều có Thiên Đồng tọa thủ tại Hợi. Nhưng ngôi mả tổ ông lại không để trúng long mạch, ngược lại ngôi mộ của chúa tôi để trúng long mạch nên được hưởng. Bởi số giống nhau, nên tướng mạo của ông và chúa tôi tương tự. Tôi nghĩ, số ông cũng có phần nào giống chúa tôi chứ! Ông làm nghề gì nào?
Đáp rằng:
- Tôi làm nghề nuôi ong, hiện nuôi 9 tổ ong.
Trần Nguyên Hãn đáp:
- Đó, tôi nói có sai đâu. Bệ hạ làm chúa chín châu, thì ông làm chúa chín tổ ong. Tổ nào cũng có vua, có quan, có tướng mà.
Sau này, ông Lê Quí Đôn đi sứ Trung quốc mua được bộ Tử Vi Âm Dương Chính Nghĩa, Nam tông đem về nghiên cứu. Ông có diễn giải ra bằng thơ lục bát khá đầy đủ. Khoa Tử Vi theo Nam tông truyền vào Việt Nam từ đó.
Bởi sách của chính phái bí truyền, sách của Nam phái lại truyền ra khá nhiều, nên hầu hết các nhà Tử Vi sau này đều theo phái Nam cả.
Trước 1975, mỗi khi tiếp một vị nghiên cứu Tử Vi đến sưu tầm nhiều vấn đề, chúng tôi rất khổ tâm, khi phải tìm đủ cách phân biệt hai phái. 

Học Phong Thủy


Khoa Tử Vi


 Học Phong Thủy

V. KHOA TỬ VI ĐỜI TỐNG
Tống Thái Tổ được truyền khoa Tử Vi bằng bộ Tử Vi Chính Nghĩa, giữ làm của riêng của hoàng tộc họ Triệu. Bộ sách chỉ được lưu truyền trong hoàng cung, để biết kẻ trung, người nịnh, để biết vận số mưu đồ đại sự. Tất cả công trình nghiên cứu của hoàng tộc nhà Tống, sau được chép thành sách gọi là Ngự Giám Tử Vi. Nhưng khi nhà Tống mất rồi, thì con cháu nhà Tống dùng bộ sách này làm kế sinh nhai, nên không dám dùng tên cũ nữa, mà đổi là Triệu Thị Minh Thuyết Tử Vi Kinh. So sánh giữa bộ Tử Vi Chính Nghĩa và Triệu Thị Minh Thuyết Tử Vi Kinh thì bộ thứ nhất có tính chất lý thuyết đại cương, như những định luật. Bộ thứ nhì có tính chất thực nghiệm, thu góp kinh nghiệm mấy trăm năm nghiên cứu lại. Như bộ thứ nhất không bàn đến việc:
- Hai người sinh cùng ngày, giờ, tháng, năm, nhưng số khác nhau. Bộ thứ nhì đi vào chi tiết này rất kỹ.
- Số người sinh đôi. Trong bộ thứ nhì lại nghiên cứu đến mấy trăm cặp sinh đôi.
- Số những người chết tập thể: như chết chìm đò, chết trong chiến tranh. Bộ thứ nhì nghiên cứu kỹ hơn, đưa ra giải quyết v.v...
Sau đây chúng tôi trình bày một giai thoại về Tử Vi đời Tống mà hầu như ai cũng biết, và sử Trung quốc cũng có chép:
“Khi còn cầm quân tranh thiên hạ, Tống Thái Tổ có người anh em kết nghĩa là Trịnh Ân. Ân là một võ tướng dũng mãnh tài ba, vợ Ân là Đào Tam Xuân cũng là một nữ tướng. Cả hai đã giúp cho Thái Tổ thành nghiệp lớn. Thái Tổ phong cho Trịnh Ân tước vương và thay vua trấn thủ ngoài biên trấn. Nhân đầu năm, Thái Tổ xem số các tướng sĩ, văn võ quần thần, thấy số Trịnh ân là Tướng quân, Thiên Tướng thủ mệnh, mà đại hạn gặp Kình dương, tiêu hạn gặp Thiên Hình. Lưu niên Thái Tuế gặp Kiết Kị, mới nói với quần thần rằng:
- Trịnh Ân do hai ông tướng thủ mệnh. Tướng sợ nhất kiếm và đao, không sợ Hỏa, Linh, Kiếp, Không. Nay đại hạn ngộ Kình là dao, tiểu hạn ngộ Hình là Kiếm. Ta e rằng Ân sẽ bị chém mất đầu. Đã vậy lưu niên Thái Tuế gặp Kiếp, Kị thì sẽ do tiểu nhân ám hại. Hơn nữa Kiếp, Kị lại ngộ Hồng, Đào, thì kẻ hại Trịnh Ân sẽ là đàn bà.
Triều đình đề nghị gọi Trịnh Ân về triều để được bảo vệ. Bấy giờ Trịnh Ân đang trấn thủ ngoài xa, nghe lệnh triệu hồi về kinh thì tuân theo. Khi đến kinh, thấy một toán quân hầu hộ vệ kiệu vua, tiền hô hậu ủng. Ân tưởng Thái Tổ vội xuống ngựa phủ phục bên đường tung hô vạn tuế. Nhưng khi ngửng đầu lên thì không phải là vua mà là cha của một phi tần được Thái Tổ sủng ái. Chức tước địa vị của Trịnh Ân cao hơn nhiều, mà phải lạy phục xuống đất thì nhục quá. Trịnh Ân nổi giận, lôi vị quốc cữu kia xuống đất, đánh cho một trận về tội tiếm nghi vệ thiên tử. Vị quốc cữu bị đòn nhừ tử, về nhà báo cho con gái biết, khóc lóc đòi trả thù. Vị vương phi thấy cha bị đòn đau, trở vào cung, phục rượu cho Tống Thái Tổ say mềm, rồi dâng biểu nói Trịnh Ân làm phản, đập phá nghi trượng thiên tử. Tống Thái Tổ say quá, không tự chủ được, phê vào chữ “trảm.” Thế là Trịnh Ân bị mang ra chém đầu. Khi Tống Thái Tổ tỉnh rượu, được triều đình tâu tự sự, thì chỉ còn biết bưng mặt khóc lớn.
Đào Tam Xuân thay chồng trấn ngoài ải, thấy chồng bị chết oan, Tam Xuân truyền quân sĩ để tang, kéo quân về triều hỏi tội. Các tướng phần bất mãn với việc Thái Tổ giết Trịnh Ân, nên không quyết tâm chiến đấu, hơn nữa không địch nổi Tam Xuân nên thua chạy. Tam Xuân vây kinh thành rất gấp. Triều đình tâu giết thứ phi, giết cả nhà quốc cữu, để tạ tội với Tam Xuân. Nhưng Tam Xuân không lui binh.
Tình hình nguy ngập. Triệu Quang Nghĩa tâu với Thái Tổ (Quang Nghĩa là em Thái Tổ, sau được truyền ngôi vua):
- Thần xem số Tam Xuân, thấy Vũ khúc, Phá Quân thủ mệnh. Vũ khúc thì hay giận, Phá Quân thì nhẹ dạ. Tử Vi Kinh nói rằng: chỉ có Lộc Tồn chế được tính ác của Vũ khúc, Thiên Lương chế được tính điên của Phá Quân. Vậy ở đây có vị văn thần nào, Thiên Lương, Lộc Tồn thủ mệnh, đề nghị có thể thuyết phục được Tam Xuân.
Thái Tổ chuẩn tấu, tìm ngay ra vị văn thần tên Cao Hoài Đức có cách trên, sai ra ngoài thành, thuyết phục Tam Xuân. Quả nhiên Tam Xuân lui binh. Từ đấy trong suốt đời Tống, con cháu họ Trịnh được nối tiếp nhau phong tước.”
Như vậy thì Triệu Quang Nghĩa đã học tới trình độ khá uyên thâm khoa Tử Vi, nên dùng phá cách dữ tợn của Tam Xuân, và trợ cách giúp Thái Tổ. Nghiên cứu lá số của Thái Tổ, năm đó đại hạn ngộ Kị, tiểu hạn đi vào cung nô, gặp Thiên thương, Kiếp. Hân Thiên thương gặp Kiếp, Không thường là hạn bị hàm oan, nguy đến tính mệnh. Chính Khổng tử gặp hạn này, bị vây tại nước Tần, hút chết đói. Số của Cao Hoài Đức ngoài Thiên Lương, Lộc Tồn thủ mệnh đại hạn ngộ Quyền, Khốc, Hư, Xương. Lương, Lộc chỉ chế được Tam Xuân. Nhưng chính Quyền, Khốc, Hư, nói Tam Xuân nghe theo, và Văn xương là sao giải hạn Địa kiếp vậy.

 Học Phong Thủy

VI. KHOA TỬ VI SAU HY DI
Hy Di tiên sinh chết, không chỉ định ai là chưởng môn, thành ra học trò tiên sinh mạnh ai nấy nghiên cứu, không thống nhất. Bản chính bộ sách chép tay lại nằm trong hoàng cung, thành ra trong các đệ tử tiên sinh, người được truyền nhiều thì giỏi, người được truyền ít thì dở nhưng vẫn tưởng mình được truyền đầy đủ. Năm 1127, quân Kim chiếm phía Bắc nước Trung Hoa, nhà Tống di cư xuống phương Nam. Khoa Tử Vi theo đó cũng chia làm Bắc tông và Nam tông. Bắc tông thì theo đúng Hy di không sửa đổi gì về các sao, an sao, chỉ nghiên cứu áp dụng rộng ra giống như hoàng tộc nhà Tống. Còn Nam phái bị ảnh hưởng của khoa bói dịch, nên đổi rất nhiều.
A. VÒNG THÁI TUẾ. Theo Hy Di có 5 sao là Thái Tuế, Tang Môn, Bạch Hổ, Điếu khách, Quan phù. Trong khi Nam phái thêm vào 7 sao nữa là Thiên Không, Thiếu Âm, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Phúc Đức, Trực Phù. Vị trí chính của sao Thiên Không được thay bằng sao Địa Không.
B. GIẢI ĐOÁN VẬN HẠN. Theo Hy Di tiên sinh thì đại hạn thứ nhất bắt đầu từ cung huynh đệ hoặc phụ mẫu. Trong khi Nam phái đổi là khởi từ cung mệnh. Rồi họ thêm những thứ đặc biệt như hạn Tam tai, hạn Huyết lộ, hạn Ác thần, rồi căn cứ vào đó, coi mỗi vì sao như một ông thần, phải cúng bái trừ tà.
Người ta quen gọi chính phái là Bắc phái và Nam phái là phái Hà Lạc.
Đời nguyên khoa Tử Vi bị cấm ngặt, bởi dân Trung Hoa đồng hóa khoa Tử Vi với đời Tống, nên Nguyên triều cấm đoán cũng không có gì lạ. Suốt đời nhà Minh khoa Tử Vi không có gì đặc sắc, chỉ mô phỏng những điều đã có từ đời Tống. Đến đời nhà Thanh, vua nhà Thanh thấy rằng: Mấy ông Tử Vi thường được lòng dân chúng. Nhiều ông mượn cớ coi Tử Vi để khích dân chúng nổi dậy chống triều đình. Vua Khang Hi mời tất cả những nhà danh tiếng về kinh, phong cho mỗi vị một chức quan để biến các vị thành tôi tớ triều đình. Lại cử một người Thanh đứng ra cai quản các vị này soạn bộ Tử Vi Đại Toàn. Bộ này chưa in thành sách. Trong dịp bát quốc xâm lăng Trung Hoa, thì Pháp, Nhật mỗi nước lấy một bản.
Có hai thuyết nói về khoa Tử Vi truyền vào Việt Nam.
Thuyết thứ nhất nói rằng một nhân viên sứ đoàn Đại Việt thời Lý tên Trần Tự Mai đã trộm được trọn vẹn bộ Tử Vi Chính Nghĩa và bộ Ngự Giám Tử Vi, rồi đem về nước. Nhưng chính Tự Mai cũng chỉ nghiên cứu rồi truyền cho con cháu. Nên sau này Hoàng Bính đem Tử Vi cho vua Trần, thì có cuộc tranh luận về Tử Vi giữa Hoàng Bính với Chiêu minh vương Trần Quang Khải và Chiêu quốc vương Trần Ích Tắc.
Một thuyết khác nói: Khoa Tử Vi truyền vào Đại Việt từ niên hiệu Nguyên phong thứ 7 đời vua Trần Thái Tông (1257). Người truyền sang Đại Việt là tiến sĩ Hoàng Bính. Hoàng Bính sinh vào  niên hiệu Gia Thái thứ nhì đời Tống Ninh Tông (1203), đậu tiến sĩ, làm thị độc học sĩ (chức quan đọc sách và giảng sách cho vua nghe) thời Tống Lý Tông. Năm Bảo Hựu nguyên niên (1253) tiên sinh nhân ở chức vụ thị độc học sĩ, nên nghiên cứu, hiểu tường tận các bộ sách Tử Vi Chính Nghĩa và Triệu Thị Minh Thuyết Tử Vi Kinh, tiên sinh nghiên cứu số Tử Vi của vua, hoàng hậu, các vương thần, khanh sĩ văn võ đại thần, thì thấy số người nào cũng sắp tán gia bại sản, hoặc chết thê thảm, hoặc gia đình ly tán. Lúc đầu tiên sinh cho rằng có cuộc thay đổi ngôi vua trong triều, nhưng sau xem đến các vị trấn thủ đại thần, cũng đều tương tự cả. Tiên sinh cho rằng đó là vận nước sắp mất. Tiên sinh lại xem số của mình và vợ, con, đều thấy thân cư Thiên Di, mệnh lập tại Tý, cung Thiên Di ở Ngọ. Tiên sinh mới giải đoán rằng: Tý là phương Bắc, Ngọ là phương Nam, vậy gia đình mình có số lập nghiệp ở phương Nam. Lại xem Thiên Văn, thấy các tinh hoa đều tụ cả ở phương Nam, mới bàn với phu nhân rằng:
- Ta xem Thiên Văn thấy phương Nam sáng rực, tương lai thánh nhân đều xuất hiện ở đó. Nay quân Thát Đát (Mông Cổ) chiếm gần hết giang sơn rồi, mà triều đình trên thì hôn ám, các quan thì nhũng lạm, lòng dân đã mất, cái vạ vong quốc không xa cho lắm. Âu là ta cáo quan về hưu, rồi đem tộc thuộc xuống miền Nam lánh nạn.
Năm 1257, Hoàng Bính mang tộc thuộc hơn ba nghìn người đến biên giới Hoa Việt, xin được vào đất Đại Việt “làm cư dân”. Vua Thái Tông nhà Trần sai người lên tra xét, thấy họ quả thực tình, không có chi giả dối, mới thuận cho Hoàng Bính lập nghiệp ở vùng Yên Bang. Hoàng Bính dâng người con gái út 16 tuổi, nhan sắc diễm lệ, lầu thông thi thư và thuật số, Tử Vi. Vua Trần Thái Tông thu nhận, phong làm Huệ Túc phu nhân, rất sủng ái.
Khoa Tử Vi được triều Trần biết đến trong một trường hợp đặc biệt: Thái tử Hoảng bị bệnh, mê man suốt ba ngày rồi mắt trợn ngược, tưởng qua đời. Vua đem thanh Thượng Phương Bảo Kiếm và áo ngự bào để bên cạnh, rồi tuyên chỉ:
- Nếu tỉnh dậy thì ban cho.
Ý nói sẽ truyền ngôi. Nhưng thái tử mắt vẫn trợn ngược. Hoàng hậu, phi tần khóc lóc thảm thiết, chuẩn bị chôn cất, nhân thấy Huệ Túc phu nhân văn hay chữ tốt, có ý nhờ viết bài vị. Vì vậy phu nhân biết ngày, giờ, tháng, năm sinh của thái tử. Phu nhân bấm số, rồi tâu:
- Xin hoàng hậu đừng lo, thái tử chỉ mê man thôi, giờ Sửu ngày mai sẽ tỉnh dậy.
Vua và hoàng hậu đều tin tưởng và hỏi tại sao phu nhân biết, tâu:
- Thần tính số Tử Vi của thái tử, thấy Đồng, Âm thủ mệnh tại Tý. Cung phúc tại Dần, có Cự, Nhật. Tử Vi Kinh nói rằng:
“Phú, thọ, quí, vinh, yểu, bần, ai khổ,
Do ư phúc trạch cát hung.”
Nghĩa là: Giầu, sống lâu, làm lớn, tiếng tăm, chết non, đau thương, khổ, do cung phúc tốt hay xấu. Đây cung phúc của thái tử có Cự, Nhật tại Dần, lại có Tả, Hửu, Xương, Khúc hợp chiếu thì căn cơ là người thọ lắm. Mệnh lại được Đồng, Âm tại Tý...Thế thì thái tử không chết non, sau còn trở thành vị minh quân, anh hùng, tạo sự nghiệp rạng rỡ cho họ Đông A nhà Đại Việt nữa. Hiện thái tử bị hạn Tang, Hổ, Kiếp, Hình thì đau yếu nặng đó thôi. Vua, hoàng hậu phân vân, chờ cho đến giờ Sửu hôm sau thì thái tử tỉnh dần, rồi khỏi hẳn. Sau là vua Trần Thánh Tông, một vị anh hùng trong lịch sử Đại Việt.
Nhân đó vua Thái Tông mới hỏi lý do tại sao phu nhân biết, phu nhân mới trình bày khoa Tử Vi. Vua Thái Tông triệu Hoàng Bính vào cung, tiên sinh dâng lên hai bộ sách Tử Vi Chính Nghĩa và Triệu Thị Minh Thuyết Tử Vi Kinh. Vua Thái Tông và hoàng tộc nhà Trần lại đua nhau nghiên cứu Tử Vi, và dùng như một nguyên tắc để cử người giúp nước.
Qua những lá số được Huệ Túc phu nhân và vương hầu đời Trần chấm còn để lại, ngày nay chúng ta thấy được nhiều khía cạnh lịch sử. Như hiện trong văn học sử, người ta không biết vị thiền sư đắc đạo Tuệ Trung thượng sĩ đời Trần, bản sư của vua Trần Nhân Tông là Trần Quốc Tung anh ruột Hưng Đạo vương hay là Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng, con thứ nhì của Hưng Đạo vương? Căn cứ vào lá số Tử Vi do Huệ Túc phu nhân, người sống đồng thời với Hưng Đạo vương, lại là thím của ngài, là sư phụ của ngài về khoa Tử Vi, thì những gì do phu nhân viết về ngài phải đúng. Hơn nữa phu nhân lại la người tích cực tiến cử ngài giữ chức vụ Tiết Chế Quân Mã tức là Tổng Tư Lệnh Quân Đội; thì chắc chắn tình nghĩa thím cháu, vua tôi, thày trò, phu nhân viết về gia đình Hưng Đạo vương không sai. Phu nhân chấm số cho Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng (1252-1313) có phê như sau:
“...Kinh vân: Tử, Tham, Mão Dậu, đa vi thoát tục chi tăng. Ngô kim nhật kiến Tuệ Trung chi số: Tử, Tham ư Dậu, ngộ Quyền, Đào, tuấn nhã chi lang. Tả, Hữu hợp chiếu thị tất đa tài, đa năng. Đãn Hiềm Tử, Tham cư Dậu ngộ Không, Kị tất thoát tục vi tăng.”
Nghĩa là sách Tử Vi nói rằng: Người mệnh lập tại Dậu, hay Mão, mà có Tử Vi, Tham Lang thủ mệnh đa số là người thoát tục đi tu. Nay ta xem số của Tuệ Trung thì thấy mệmh lập tại Dậu, Tử Vi, Tham Lang thủ mệnh, còn gặp Đào Hoa, Hóa Quyền thì là người đẹp đẽ, được Tả, Hữu hợp chiếu thì là người đa tài, đa năng. Nhưng tiếc rằng cái số mà mệnh lập tại Dậu, Tử Vi, Tham Lang thủ mệnh, gặp Thiên Không, Hóa Kị thì thế nào cũng đi tu.
Từ sự kiện trên, thì ta tìm ra được Tuệ Trung thượng sĩ là Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng chứ không phải là Trần Quốc Tung.
Qua các tài liệu còn lại, thì khoa Tử Vi đời Trần có một sắc thái đặc biệt hơn ở Trung quốc, đó là vấn đề phá cách và trợ cách. Câu chuyện Đoàn Nhữ Hài là một bằng cớ. Nếu Tống Thái Tổ biết Trịnh Ân bị nạn mà cứu không được, thì vua Trần Nhân Tông biết Đoàn Nhữ Hài bị nạn mà cứu thoát. Câu chuyện như sau:
Đoàn Nhữ Hài là học trò trường Quốc Tử Giám ở Thăng long. Năm 20 tuổi, Hài chuẩn bị để thi thái học sinh (tiến sĩ). Muốn được thi thái học sinh thì Hài phải qua một kỳ khảo hạch của trường trước. Nếu thấy khá mới được cử đi thi. Một hôm ra chùa Diên Hựu (chùa một cột) chơi, thấy vị tăng ngồi nhìn trời, Hài hỏi:
- Bạch hòa thượng, tiểu sinh nghe rằng người tu hành có thể biết được vận số sau này sẽ ra sao, có đúng không?
Hòa thượng hỏi:
- Tiên sinh muốn biết điều gì?
- Tiểu sinh muốn biết mai sau hoạn lộ ra sao. Tiểu sinh mong sư phụ chỉ giáo cho tương lai.
Hòa thượng hỏi ngày, giờ, tháng, năm sinh của Hài rồi nói:
- Số tiên sinh là số tá cửu trung ư kim diện nghĩa rằng phò tá vua ở sân rồng, tức là số làm tới tể tướng. Mệnh lập tại Mùi; Tả, Hữu thủ mệnh là người đa tài đa năng. Tử Vi Kinh nói, Tả phụ, Hữu bật bỉnh tính khắc khoan khắc hậu, nên tính tình từ tốn, hành sự cẩn trọng. Cái cách Nhật tại Mão, Nguyệt tại Hợi chiếu là cách Nhật, Nguyệt tịnh minh, nên thì sớm gặp minh quân. Nhưng vì tiên sinh có một cách rất xấu: Đào Hoa, Hồng loan cư nô, lại gặp Hình, thì tất thế nào cũng vì đàn bà mà tan nát sự nghiệp, đến phải vong mạng. Đáng tiếc, đáng tiếc.
Hài mừng lắm trở về lo học hành, tháng sau trong kỳ thi khảo hạch của trường Quốc Tử Giám, Hài bị trượt, vì văn ngông nghênh, kênh kiệu quá. Hài giận lắm tìm vị hòa thượng hỏi:
- Hôm trước đại sư đoán rằng sau này tôi sẽ làm tể tướng, thế sao tôi thi trượt? Không đậu thì làm sau thi thái học sinh được? Không đậu thái học sinh thì sao có thể làm tể tướng?
Vị hòa thượng cười đáp:
- Từ xưa đến giờ có biết bao nhiêu vị tể tướng mà không đậu đại khoa? Bần tăng đoán tiên sinh làm tể tướng chứ có đoán tiên sinh thi đậu đâu? Này, năm nay tiểu hạn tiên sinh nhập cung Dậu được Thái Dương miếu địa, Hóa khoa từ Mão chiếu sang thì thanh vân đắc lộ, được gặp thiên nhan. Nhưng đại hạn đóng ở cung Tỵ, Thiên mã gặp Đà la là ngựa què. Ngựa đã què còn đi đến cung Dậu gặp Tuần thì ngựa bị chặt cụt chân. Vậy khi nào tiên sinh bị ngựa cắn hoặc đá là lúc gặp vua. Nhưng tiên sinh nhớ một điều: Khi được gặp vua, nếu hoàng thượng ban thưởng cho bao nhiêu vàng bạc, phải nộp cho lão tăng một nửa.
Hài mừng lắm, về nhà, đúng ngày mà hòa thượng đoán gặp vua, không thấy linh nghiệm. Hài tìm đến chùa Diên hựu để hỏi tội hòa thượng. Nhưng trên đường đi, Hài bị một người cưỡi ngựa đụng phải, té lăn vào bụi cỏ. Hài túm lấy dây cương hạch tội:
- Nhà ngươi đi đâu mà có mắt như mù, đụng phải ta?
Người cưỡi ngựa, mình chỉ có mặc áo lót, mũ đội phía sau ra trước, nhảy xuống ngựa tạ lỗi:
- Xin lỗi tiên sinh, tôi đi tìm cha để tạ lỗi. Tiên sinh có biết chữ không? Tôi muốn nhờ tiên sinh một việc đây!
Hài bực mình nói:
- Ta đã học trường Quốc Tử Giám, sắp thi thái học sinh, thì Bạch Gia, Chu Tử, Cửu Lưu Tam Giáo đều thông. Sao lại không biết chữ?
Người cưỡi ngựa tiếp:
- Vậy tiên sinh làm dùm tôi bài biểu tạ tội với cha tôi, tôi sẽ bảo quan Quốc Tử Giám tư nghiệp cho tiên sinh đậu. Năm sau thi thái hoc sinh tôi sẽ lấy tiên sinh đậu trạng nguyên, được chăng?
- Nhà ngươi điên à? Nhà ngươi có biết rằng chỉ có một người có thể cho học sinh đậu trạng nguyên , đó là vua. Nhà ngươi là ai mà dám nói lớn lối như vậy?
Người kia đáp:
- Tôi là vua đây.
Đoàn Nhữ Hài nhìn lại mũ người đó, quả là vua, vội thụp xuống đất tạ tội.
Người cưỡi ngựa chính là vua Trần Anh tông. Sau khi thắng quân Mông cổ, năm 1293 vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là Trần Anh tông rồi đi tu. Vua Anh Tông thường rượu chè say sưa. Nhân một hôm uống rượu Xương bồ sau quá nằm ngủ, thì Thượng hoàng từ Thiên trường về Thăng long. Quan trong triều không ai biết cả. Nhân Tông thong thả xem cung điện từ giờ Thìn đến giờ Tỵ. Thái giám dâng cơm. Thượng hoàng không thấy vua đâu, hỏi thái giám. Thái giám đánh thức vua dậy, nhưng vua say quá không tỉnh được. Thượng hoàng giận quá bỏ về, lệnh cho quan về Thiên trường họp, có ý truất phế Anh Tông. Đến giờ Mùi Anh Tông mới tỉnh dậy, cung nhân đem việc ấy tâu. Vua sợ quá không kịp mặc áo, nhảy lên ngựa, chạy tới chùa Tư phúc thì đụng phải Đoàn Nhữ Hài. Hai người xuống thuyền xuôi về Thiên trường. Dọc đường Đoàn Nhữ Hài làm tờ biểu dài hai nghìn chữ tạ tội. Nhưng thượng hoàng vẫn còn giận, không cho vào. Hai người phải quì ở ngoài. Các quan liếc mắt nhìn văn biểu, thấy văn hay, truyền nhau đọc.
Thượng hoàng nghe được hỏi:
- Văn ở đâu mà hay như vậy?
Các quan tâu rằng đó là đại biểu tạ tội của vua. Thượng hoàng truyền:
- Đưa vào đây!
Ý ngài muốn nói rằng đưa đại biểu vào, nhưng các quan hiểu lầm, đưa cả vua và Đoàn Nhữ Hài vào. Thượng hoàng thấy sự đã rồi, đành tiếp biểu xem, thấy lời văn điêu luyện, thống thiết, bèn xá tội cho vua Anh Tông. Ngài phán rằng:
- Ta đang cần một thiếu niên anh tài phụ tá cho con ta. Nay gặp tiên sinh ở đây thực là may mắn.
Hài trình việc gặp hòa thượng ở chùa Diên hựu, được hòa thượng đoán trước sự việc. Thượng hoàng phán:
- Khoa Tử Vi do Hoàng Bính truyền sang Đại Việt, khoa này đâu có truyền ra ngoài dân dã? Hòa thượng xem Tử Vi cho tiên sinh đó là sư phụ của ta, tức là Huệ Trung thượng sĩ đó (Trần Quốc Tảng).
Hài nghe xong hoảng sợ, nghĩ hôm trước nếu mình gây với hòa thượng thì ốm đòn rồi. Bởi Tuệ Trung là một vỏ học danh gia đời Trần.
Thượng hoàng hỏi số của Hài, rồi phán:
- Số của tiên sinh là số bậc tể thần. Sau này làm nên sự nghiệp hiển hách. Nhưng tiếc rằng Đào, Hồng cư nô thì thế nào cũng xảy ra việc bất chính trong tình trường, lại thêm Tham, Hình nữa thì thế nào cũng vì má đào mà sự nghiệp tan vỡ, chết vì nghiệp tình, đáng tiếc thay.
Vua Anh Tông tâu rằng:
- Thần nhi nghe nói căn cứ vào khoa Tử Vi có thể cải được số mạng. Thỉnh cầu phụ hoàng có cách nào cứu được Đoàn tiên sinh không?
Thượng hoàng bèn xé tờ bìa cuốn kinh Kim Cương viết mấy chữ Tứ đại giai không, miễn tử trao cho Đoàn Như Hài. Tứ đại giai không là chữ lấy trong kinh Kim Cương: “Vô nhân tướng, vô ngã tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tưởng, tứ đại giai không.” Nghĩa là không có Hình Tượng của người, của ta, của chúng sinh, không có gì lâu dài cả. Bốn cái đó đều là hư ảo.
Thượng hoàng phán:
- Ta xem số thấy cái vạ vì má đào của tiên sinh sắp tới. Nay ta trao cho tiên sinh mảnh giấy này, khi bị nạn có thể dùng đến để cứu mạng. Muốn giải cái hạn Đào, Hồng, Hình, Tham thì phải dùng đến Quyền. Nay ta viết chữ miễn tử tức là dùng quyền rồi, phụ với Hóa Quyền đóng chung với Tham Lang nữa. Muốn giải hạn Thiên Hình thì dùng đến Không vong. Ta dùng bìa cuốn kinh Kim Cương tức là dùng cái Không của đạo Phật. Như vậy mong có thể cứu được tiên sinh.
Trở về Thăng long, vua Anh Tông phong Đoàn Nhữ Hài làm Ngự sử trung tán, đây là lần đầu tiên một người không đậu đạt gì, tuổi 20 được phong làm Ngự sử trung tán. Người thời đó ganh ghét, làm thơ diễu Hài như sau:
“Phong kiến luận đàm truyền cổ ngữ,
Khẩu tồn nhũ xú Đoàn trung tán.”
Có nghĩa là ôn câu cổ ngữ tại đài ngự sử. Miệng của trung tán Đoàn Nhữ Hài còn hôi sữa. Ba năm sau, hạn của Đoàn Nhữ Hài qua cung Tý gặp Đào, Hồng, Tham, Quyền và Thiên thương, triều đình khám phá ra mối tình của Đoàn Nhữ Hài với cung nữ của vua Anh Tông.
Luật triều đình rất khắc khe với tội ngoại tình. Ngay với thường dân khi ngoại tình xẩy ra, thì gian phụ bị tội tử hình, dâm phụ tùy theo người chồng tha hay không. Nay tội đó xảy ra giữa một đại thần và cung nữ. Nên cả hai bị khép tội chém đầu. May nhờ có thủ bút của thượng hoàng, viết trên bìa cuốn kinh Kim Cương nên cả hai được miễn tử. Vua Anh Tông truyền cung nữ cho Đoàn Nhữ Hài.
Đoạn trên đây chúng tôi tóm lược trong sách Đông A Di sự, phần Đoàn Nhữ Hài liệt truyện.

 Học Phong Thủy