II. TIỂU SỬ HY DI TIÊN SINH
Tiên sinh họ Trần, húy Đoàn, tự Hy Di, người đất Hoa
Sơn ngày nay về phía Nam huyện Hoa Âm tỉnh Thiểm Tây. Khi ra đời tiên sinh bị
đẻ non tháng, nên mãi hơn hai năm mới biết đi. Thuở nhỏ thường đau yếu liên
miên. Tiên sinh học văn không thông, học võ không đủ sức, thường suốt ngày theo
phụ thân ngao du khắp non cùng thủy tận.
Thân phụ tiên sinh là một nhà Thiên Văn, Lịch Số đại
tài đương thời. Về năm sinh của tiên sinh, không một thư tịch nào chép. Nhưng
căn cứ vào bộ Triệu Thị Minh Thuyết Tử Vi Kinh, khi tiên sinh yết kiến Tống
Thái Tổ Triệu Khuôn Dẫn vào niên hiệu Càn Đức nguyên niên (963) có nói: “Ngô
kim nhật thất thập hữu dư,” nghĩa là tôi năm nay trên 70 tuổi. Vậy có thể tiên
sinh ra đời vào khoảng 888 – 893 tức niên hiệu Vạn Đức nguyên niên đời Đường Hy
Tông đến niên hiệu Cảnh Phúc nguyên niên đời Đường Chiêu Tông. Tiên sinh bắt
đầu học Thiên Văn năm 8 tuổi. Bộ Triệu Thị Minh Thuyết Tử Vi Kinh thuật:
“Tiên sinh 8 tuổi mà còn tính thơ dại. Lúc nào cũng
ngồi trong lòng thân phụ. Một hôm thân phụ tiên sinh phải tính ngày giờ mưa bão
trong tháng, bị tiên sinh quấy rầy, mới dắt tiên sinh ra sân, chỉ lên bầu trời
đầy sao rồi bảo:
- Con có thấy sao Tử Vi kia không?
Đáp:
- Thấy.
Lại chỉ lên sao Thiên Phủ mà hỏi:
- Con có thấy sao Thiên Phủ kia không?
Đáp:
- Thấy.
- Vậy con hãy đếm xem những sao đi theo sao Tử Vi và
Thiên Phủ là bao nhiêu?
Thân phụ tiên sinh tưởng rằng tiên sinh có đếm xong
cũng phải trên nửa giờ. Không ngờ ông vừa vào nhà, tiên sinh đã chạy vào thưa:
- Con đếm hết rồi. Đi sau sao Tử Vi là 5 sao, như vậy
chòm sao Tử Vi có 6 sao. Đi sau sao Thiên Phủ là 7 sao, như vậy chòm sao Thiên
Phủ có 8 sao.
Từ đấy tiên sinh được thân phụ hết sức truyền khoa
Thiên Văn và Lịch Số.
Học Phong Thủy
III. TRUYỀN CHO VUA TỐNG
Giai thoại kỳ thú mà hầu hết các nhà nghiên cứu Tử Vi
đều biết đó là Hy Di tiên sinh đã dùng khoa Thiên Văn và Tử Vi đoán trước được
hai đứa trẻ nghèo đói, sau đều trở thành vua. Bộ Tử Vi Chính Nghĩa phần Hy Di
tiên sinh liệt truyện đã kể giai đoạn kỳ thú đó như sau:
Một hôm tiên sinh dẫn đệ tử ra sân xem Thiên Văn, chợt
kêu lên rằng:
- Kìa quái lạ không?
Đệ tử xúm lại nhìn theo tay tiên sinh chỉ thấy sao Tử
Vi, Thiên Phủ đi vào địa phận của sao Phá Quân và Hóa Kị, mà ánh sáng chiếu
xuống núi Hoa Sơn, tiên sinh nói:
- Tử Vi, Thiên Phủ là đế vượng, tức là vua. Tử Vi bao
giờ cũng đi trước, Thiên Phủ bao giờ cũng theo sau. Đây tức là anh em một gia
đình nào đó, đang buổi hàn vi, sau sẽ làm nên sự nghiệp vẻ vang, vị tới đế
vương. Phá Quân là Hao tinh chủ nghèo đói, Hóa Kị chủ bần hàn, kêu xin. Phá ngộ
Kị thì nghèo đói phải đi ăn mày. Tử, Phủ ngộ Phá, Kị thì hai vị thiên tử chưa
gặp thời phải đi ăn xin. Tất cả chiếu xuống Hoa Sơn thì hai vị Thiên tử sẽ qua
đất Hoa Sơn ăn xin. Vậy nay các người theo ta xuống núi, giúp cho vị anh hùng
vị ngộ, đang gặp lúc cùng khó.
Đệ tử thưa:
- Đệ tử nghĩ, thì nhân lúc Thiên tử chưa gặp thời, ta
nên cho người vay nợ để mai đây có dịp đòi nợ, cứu giúp dân nghèo.
Tiên sinh đồng ý. Hôm sau thầy trò xuống núi, thấy một
đoàn người chạy loạn đi qua. Tiên sinh để ý đến một thiếu phụ gánh hai chiếc
thúng, trong mỗi thúng có một đứa bé khôi ngô, dung quang khác thường. Tiên
sinh biết hai đứa trẻ này ứng vào sao Tử, Phủ trên trời đây. Mới hỏi thiếu phụ:
- Này bà ơi, bà có mệt lắm không? Bà gánh hai vị thiên
tử đi đâu vậy?
Thiếu phụ đặt gánh xuống thưa:
- Con tôi đó, đứa lớn là Triệu Khuông Dẫn, đứa nhỏ là
Triệu Khuông Nghĩa. Từ sáng đến giờ chúng tôi đói không có gì ăn. Tiên sinh bố
thí cho chút đồ ăn được không?
Tiên sinh đáp:
- Tôi xem Thiên Văn, coi dung quang hai con bà khác
phàm. Bà có nhớ ngày sinh của chúng không?
Thiếu phụ cho ngày giờ, năm sinh của hai con. Tiên
sinh tính số Tử Vi, thấy cách của Khuông Dẫn là “Tử, Phủ, Vũ, Tướng, được Tả,
Hữu, Khoa, Quyền, Lộc cung chiếu. Ngặt đại hạn đang gặp Hình, Kị, Kiếp, Không
nên nghèo khó. Số của Khuông Nghĩa là Thiên Phủ lâm Tuất, ngộ Tả, Hữu, Khoa,
Quyền, đại hạn cũng đang gặp Kiếp, Kị nên nghèo khó.” Tiên sinh nói với học
trò:
- Hai đứa trẻ này chân mệnh đế vương, khi đại hạn đi
đến gặp Khôi, Việt, Xương, Khúc là lúc thành đại nghiệp đấy. Ta phải giúp đỡ
mới được, hầu mua lấy cảm tình, lúc thiên tử gặp thời, có thể nhân đó giúp dân
vậy.
Tiên sinh nói với thiếu phụ:
- Tôi tính số, thấy hai con bà sau đều làm vua. Khi đã
làm vua rồi, thì tất cả giang sơn vạn dặm đều là của con bà cả. Vậy bà bán cho
tôi giải núi Hoa Sơn này lấy tiền mà tiêu.
Thiếu phụ tưởng ông đạo sĩ điên khùng mới mua núi. Bà
đồng ý bán. Bởi bà không biết chữ, nên xé vạt áo hai con quấn vào đôi đũa, nhét
trong một ống đũa, coi như văn tự, trao cho Hy Di tiên sinh và nhận 10 nén
vàng.
Năm 960, Triệu Khuông Dẫn thống nhất giang sơn, lên
ngôi vua, lập ra nhà Tống, sau là Tống Thái Tổ. Niên hiệu Càn Đức nguyên niên
(963), quan trấn thủ vùng Hoa Sơn dâng biểu về triều rằng: Có một đạo sĩ Trần
Đoàn, tự Hy Di, bao dưỡng dân chúng không nộp thuế. Đạo sĩ nói rằng Hoa Sơn là
đất riêng của ông, đã được nhà vua bán rồi.
Tống Thái Tổ không nhớ chuyện cũ, nổi giận sai bắt Hy
Di tiên sinh vào triều trị tội. Nhưng quan địa phương rất kính trọng tiên sinh,
không dám trói, còn đưa lừa cho tiên sinh cởi để lai kinh. Tiên sinh được giải
vào triều kiến. Thái Tổ hỏi:
- Đạo sĩ cũng phải tuân theo phép nước chứ? Hà cớ phao
ngôn nói rằng đã mua đất của triều đình?
Tiên sinh đáp:
- Năm nay tôi đã trên 70 tuổi, đâu dám nói dối. Luật
lệ của bệ hạ là: Đời cha mẹ vay nợ, thì đời con phải trả. Trước đây thái hậu
qua Hoa Sơn có bán cho bần đạo toàn vùng này lấy 10 nén vàng. Văn tự còn đây.
Tiên sinh xuất trình ống đũa và vạt áo. Thái Tổ truyền
đem vào hậu cung hỏi thái hậu. Thái hậu nhớ chuyện cũ vội kêu lên:
- Vị thần tiên ở núi Hoa Sơn đây mà, người đã cứu nạn
cho nhà ta xưa đây.
Thái hậu kể truyện xưa, Thái Tổ và triều thần kinh sợ
về tài tiên tri của tiên sinh, vội tạ lỗi, lưu tiên sinh tại kinh, kính như bậc
thầy. Tống Thái Tổ hỏi tiên sinh về khoa Tử Vi, tiên sinh rút trong bọc ra tập
sách nhỏ đề Tử Vi Chính Nghĩa trao cho Thái Tổ mà tâu rằng:
- Đây tất cả tinh nghĩa về khoa Tử Vi. Bần đạo không
phải là người đặt ra khoa này. Nhân người trước đã nói về Tử Vi, đến bần đạo,
nhận thấy Dịch Lý, Hình Tượng, Thiên Văn, Lịch Số, Địa lý đều có uyên nguyên
với nhau, mới tước bỏ những rườm rá của người xưa, hợp thành khoa Tử Vi, mà
thần viết trong tập này.Với khoa Tử Vi bệ hạ có thể biết kẻ trung, người nịnh,
thời nào tốt, thời nào xấu mà mưu đại sự. Đó là học tới bậc sơ đẳng. Còn học
uyên thâm hơn, có thể nhân số mạng xấu, dùng người nào thì cứu giúp được kẻ bị
nạn, và cứu như thế nào? Thấy kẻ ác, thì dùng người nào cách nào thì trị được,
đó là học tới trung đẳng. Còn học tới chỗ uyên thâm cùng cực, có thể làm đảo
lộn cả thiên hạ, nắm thiên hạ trong bàn tay. Nhưng bần đạo kính dâng bệ hạ một
câu, khi dùng tập sách này, đó là: Chữ Nhân, đừng nên dùng vào những việc ác
độc, tổn âm đức.
Tiên sinh được các quan xin coi Tử Vi. Họ chỉ việc
biên ngày sinh, tháng sinh, năm sinh và giờ sinh, tiên sinh sẽ kêu ra vị đó
đang lĩnh chức gì trong triều, cùng sự lập thân ra sao, cuối cùng sự nghiệp kết
thúc như thế nào. Triều thần không ai mà không kính phục.
IV. CÁI CHẾT CỦA HY DI
Sử sách không ghi tiên sinh ra đời năm nào, mà cái
chết của tiên sinh cũng rất mơ hồ. Bộ Triệu Thị Minh Thuyết Tử Vi Kinh viết:
“Niên hiệu Khai Bảo thứ ba (972), Thái Tổ sai sứ đến
Hoa Sơn thỉnh tiên sinh, thì đệ tử cáo rằng tiên sinh ngao du sơn thủy đã ba
năm không thấy trở về.”
Sau trên 10 năm không thấy tiên sinh trở về, đệ tử
tiên sinh cho rằng thầy đã quy tiên. Họ họp nhau bầu lấy người chưởng môn.
Nhưng khi sinh thời, tiên sinh gặp ai dạy người đó, trình độ học trò không đều
nhau, mà họ không biết nhau nữa. Cuối cùng vì trong 10 năm xa sư phụ, mạnh ai
nấy nghiên cứu, thành ra khoa Tử Vi có nhiều dị biệt. Các đệ tử tiên sinh tự ý
thu đệ tử, truyền dạy, người có căn cơ thì dạy hết, người không có căn cơ thì
dạy ít, thành ra khoa Tử Vi trở thành một khoa bí hiểm của riêng từng nhà,
nhiều nhà còn giữ để làm kế sinh nhai, do vậy mới có nhiều khác biệt.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét