Thứ Ba, 26 tháng 2, 2013

X. DỊ BIỆT CHÍNH, NAM PHÁI

Học Phong Thủy
A. SỰ KHÁC BIỆT VỀ SỐ SAO
1. BỘ TỬ VI CHÍNH NGHĨA. Được coi như là chính thư. Không nói về số sao. Song xét trong mục dậy an sao thì có 93 sao. Nhưng những lá số phụ lục thì chỉ chép có 89 sao. Không thấy an sao Thiên thương, Thiên sứ, Thiên la, Địa võng. Điều này dễ hiểu bởi 4 sao trên đều ở vị trí cố định, không cần thiết an vào. Theo Hy Di tiên sinh thì 93 sao đó là:
a.    CÁC CHÒM.
Tử Vi. (6 sao)
·         Tử Vi
·         Thiên Cơ
·         Thái Dương
·         Vũ Khúc
·         Thiên Ðồng
·         Liêm Trinh
Thiên Phủ  (8sao)
·         Thiên Phủ
·         Thái âm
·         Tham Lang
·         Cự môn
·         Thiên Tướng
·         Thiên Lương
·         Thất Sát, Phá Quân.
Thái Tuế (5 sao)
·         Thái Tuế
·         Tang Môn
·         Bạch Hổ
·         Điếu khách
·         Quan phù.
Lộc Tồn  (17 sao)
·         Lộc Tồn
·          Kình dương
·         Đà la
·         Quốc ấn
·         Đường phù
·         Bác sĩ
·         Lực sĩ
·         Thanh long
·         Tiểu hao
·         Tướng quân
·         Tấu thủ
·         Phi liêm
·         Hỷ thần
·         Bệnh phù
·         Đại hao
·         Phục binh
·         Quan phủ.
Trường Sinh (12 sao)
·         Trường sinh
·         Mộc dục
·         Quan đới
·         Lâm quan
·         Đế vương
·         Suy
·         Bệnh
·         Tử
·         Mộ
·         Tuyệt
·         Thai
·         Dưỡng.
b.    CÁC SAO AN THEO THÁNG -  7 sao:
·         Tả phù
·         Hữu bật
·         Tam thai
·         Bát tọa
·         Thiên Hình
·         Thiên riêu
·         Đẩu quân.
c.    CÁC SAO AN THEO GIỜ -8 sao :
·         Văn xương
·         Văn khúc
·         Ấn quang
·         Thiên quí
·         Thai phụ
·         Phong cáo
·         Thiên Không
·         Địa kiếp.
d.    TỨ TRỢ TINH- 4 sao :
·         Hóa khoa
·         Hóa Quyền
·         Hóa Lộc
·         Hóa Kị.
e.    CÁC SAO AN THEO CHI- 17 sao:
·         Phong trì
·         Phượng các
·         Thiên đức
·         Nguyệt đức
·         Hồng loan
·         Thiên hỉ
·         Thiên mã
·         Hoa cái
·         Đào Hoa
·         Phá toái
·         Kiếp sát
·         Cô thần
·         Quả tú
·         Hỏa tinh
·         Linh tinh
·         Thiên khốc
·         Thiên hư.
f.     CÁC SAO AN THEO CAN - 5 sao :
·          Lưu hà
·         Thiên khôi
·         Thiên việt
·         Tuần không
·         Triệt không.
g.    CÁC SAO CỐ ĐỊNH -  4 sao :
·         Thiên thương
·         Thiên sứ
·         Thiên la
·         Địa võng.
2. BỘ TRIỆU THỊ MINH THUYẾT TỬ VI KINH. Đều ghi có 93 sao, giống như bộ Tử Vi Chính Nghĩa.
3. BỘ TỬ VI ĐẠI TOÀN. Ghi rõ ràng rằng trong lá số phải có 93 sao như Hy Di tiên sinh, kỳ dư an thiếu, đủ hay khác đi đều là tạp thư, ma thư của bọn thuật sĩ bịa đặt để lửa nhau, còn giả đạo đức tỏ ra là người bác học, song chẳng qua là phường lưu manh (!).
4. BỘ TỬ VI ĐẨU SỐ TOÀN THƯ. Nói về số sao rất lờ mờ. Phần dạy cách an sao, có ghi rõ 85 sao. Các sao cũng giống như ba bộ trên. Duy thiếu các sao sau đây: Đào Hoa, Phá toái, Kiếp sát, Ấn quang, Thiên quí, Cô thần, Quả tú và Lưu hà. Nhưng khi đọc bài phú nói về các sao, thì lại thấy nói tới Đào Hoa, Ấn quang, Thiên quí v.v.
5. BỘ ĐÔNG A DI SỰ. Thấy ghi đúng 93 sao như bộ trên, nhưng khi xét lá số để chiêm nghiệm thì thấy thiếu các sao: Bác sĩ, Thiên la, Địa võng, Thiên thương, Thiên sứ. Có lẽ các Tử Vi gia đời Trần quan niệm rằng các sao trên đều ở vị trí cố định, nên không cần an vào như sao Bác sĩ bao giờ cũng đóng chung với sao Lộc Tồn. Sao Thiên thương bao giờ cũng ở cung Nô, sao Thiên sứ bao giờ cũng ở cung Tật ách và sao Thiên la bao giờ cũng ở cung Thìn, sao Địa võng bao giờ cũng ở cung Tuất.
Trên đây là các bộ chính thư, dưới đây là các bộ tạp thư:
6. BỘ TỬ VI ÂM DƯƠNG CHÍNH NGHĨA BẮC TÔNG. Thấy ghi đến 104 sao. Các sao cũng giống như chính thư cả về số sao cũng như cách an sao, song thêm các sao sau đây: Thiên tài, Thiên thọ, Thiên y, Thiên trù, Thiên giải, Địa giải, Giải thần, Thiên lộc, Lưu niên văn tinh, Thiên quan quí nhân, Thiên phúc quí nhân.
7. BỘ TỬ VI ÂM DƯƠNG CHÍNH NGHĨA NAM TÔNG. Ghi tới 128 sao, các sao cũng giống như bộ Bắc tông nhưng thêm các sao sau đây: 24 sao là Thái túc, Thiên xá, Niên khôi, Nguyệt khôi, Niên thổ khúc, Nguyệt thổ khúc, Thiên thương (nghĩa là kho lúa, khác với Thiên thương ở cung nô như vậy trong lá số có 2 Thiên thương,) Thiên Phủ khố, Thiên tiễn, Địa Không, Hồng diệm, Phù trầm, Sát nhận. Vòng Thái Tuế được thêm vào 7 sao nữa cho đủ 12 sao, đó là các sao Thiế dương, Thếim âm, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Phúc Đức, Trực Phù. Tứ phi tinh: Thiên trượng, Thiên dị, Mao đầu, Thiên nhận.
8. BỘ TỬ VI THIỂN THUYẾT. Gồm có 128 sao, giống như bộ Nam tông, nhưng thêm vào 13 sao nữa rất quái dị, không có trong Thiên Văn mà chỉ thấy trong tiểu thuyết thần kỳ chí quái, ma trâu đầu rắn. Đó là các sao: Nam cực, Đông đẩu tinh quân, Bắc đẩu tinh quân, Nam đẩu tinh quân, Tây đẩu tinh quân, Cửu thiên huyền nữ, Đao trì kim mẫu, Vũ tinh, Lôi tinh, Thiên vương tinh, Địa tạng tinh, Thái bạch kim tinh.
9. BỘ LỊCH SỐ TỬ VI TOÀN THƯ. Số sao cùng giống như bộ Tử Vi thiển thuyết song dạy an sao ngược lại với các bộ trên: như sao Trường sinh không những chỉ an ở Dần, Thân, Tị, Hợi mà còn thấy ở Tí, Ngọ, Mão, Dậu. Vòng Tử Vi an xuôi, vòng Thiên Phủ an ngược. Số sao cũng có 128 mà thôi.

Học Phong Thủy


B. SỰ KHÁC BIỆT VỀ SAO LƯU NIÊN
1. CHÍNH THƯ. Các sao lưu niên đều an giống nhau, số sao cũng giống nhau:
- Vòng Lộc Tồn với 15 sao, không có Quốc ấn, Đường phù. (Bộ Tử Vi đẩu số toàn thư chỉ nói đến hai sao Kình, Đà thôi.
- Thiên khôi, Thiên việt, Thiên mã, Thiên khốc, Thiên hư và vòng Thái Tuế 5 sao, Văn xương, Văn khúc.
Tất cả 27 sao.
2. TẠP THƯ. Vẫn gồm các sao như bộ chính thư nhưng thêm: Hỏa huyết, Lan can, Quân sách, Quyện thiệt, Bạo tinh, Thiên ách, Thiên cẩu, Huyết nhận, Huyết cổ, Ngũ quỉ, và vòng Trường sinh 12 sao.
C. SỰ KHÁC BIỆT VỀ ĐẠI HẠN
Chính phái an đại hạn như sau:
- Từ lúc đẻ ra, tới số cục thì an tại cung mệnh.
Đại hạn thứ nhất sẽ an vào cung phụ mẫu hoặc huynh đệ.
Tỷ như: Người Hỏa lục cục, thì từ 1 tới 5 tuổi đại hạn ở cung mệnh. Từ 6 tuổi trở đi thì đại hạn ở cung huynh đệ hoặc phụ mẫu. Nhưng Nam phái lại an ngay đại hạn thứ nhất ở cung mệnh rồi đại hạn thứ nhì ở cung phụ mẫu hoặc huynh đệ. Như vậy từ lúc đẻ ra cho tới số tuổi “số cục” không có đại hạn.
Sự khác biệt đại hạn này, đã khiến cho Nam phái phải đi tìm nhiều sao khác, hoặc nhiều thuật khác, để đoán cho đúng, nhất là đoán vận hạn chết, rất quan trọng. Bắc phái đoán rất đúng, nhưng theo Nam phái lại khó khăn.
Sự khác nhau về hạn, khiến cho Nam phái không thể dùng các bài phú đoán của Hy Di tiên sinh được. Bởi phú đoán thì an đại hạn theo Bắc phái. Những người học theo Nam phái, thường tỏ ý nghi ngờ các bài phú. Họ phải dò dẫm tìm hiểu, nghiên cứu lâu năm mới đưa ra lối giải quyết. Trong khi những người học theo Bắc phái, thì sau khi học an sao, họ có thể học giải đoán bằng cách xử dụng phú đoán được.
Tỷ dụ. Chính phái, đoán số Hạng Vũ, căn cứ vào phú đoán:
Hạng Vũ Anh Hùng hạn ngộ Thiên Không nhi táng quốc. Thạch Sùng hào phú, vận phùng địa, kiếp dĩ vong gia.
Nghĩa là Hạng Vũ Anh Hùng, nhưng hạn ngộ Thiên Không nên mất nước. Thạch Sùng giàu có nhưng hạn gặp Đại kiếp nên tan nát nhà cửa.
Nếu xét theo Nam phái thì câu phú trên không đúng được.
- Thứ nhất là trong Bắc phái chỉ có sao Thiên Không, Đại kiếp đi đôi với nhau, không có sao Địa Không. Sao Thiên Không không đóng ở vị trí sao Địa Không của Nam phái và không có sao Thiên Không trước Thái Tuế một cung.
Hạng Vũ, đại hạn tới Dần gặp Địa kiếp, tiểu hạn ở Thân gặp Thiên Không. Đại tiểu hạn Kiếp, Không gặp nhau nên táng quốc. Dù đại hạn có Đồng, Lương, Quyền không giải nổi.
Bàn về số Thạch Sùng cũng tương tự. Nếu đoán theo Nam phái, bài phú trên không đúng:
- Đại hạn đang ở cung Mão, gặp Thái Tuế, mà Thiên Không đóng ở Thìn.
Như vậy không có vụ Hạng Võ chết về “Kiếp, Không lâm nạn, Sở vương táng quốc.” Mà chỉ có việc Hạng Võ gặp hạn Địa Không ở Thân mà thôi.
Hồi còn ở Việt Nam, chúng tôi dạy Tử Vi cho các vị yêu khoa này, thường thì những vị chưa biết gì học mau hơn. Còn các vị học theo Nam phái, học thêm mấy chục bài phú nữa, mất công chỉnh đốn lại. Bởi vậy chúng tôi có lời khuyên: Các vị học theo Nam phái thì không nên học những bài phú của Hy Di, mà nên học những bài phú của Ma Y thuộc Nam phái mà thôi. Nếu không đầu óc lộn tùng phèo.
D. SỰ KHÁC BIỆT VỀ AN SAO
Trong 93 tinh đầu, không có sự khác biệt. Nhưng duy sau này mấy bộ tạp thư đưa ra an những sao mới, hoàn toàn do họ đặt ra, có sự quái gở khi an vòng Trường sinh. Họ khởi Trường sinh cả ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu.
Về an Khôi, Việt, thì chính thư, tạp thư chỉ khác nhau có tuổi Canh mà thôi. Chính thư thì Khôi ở Sửu, Việt ở Mùi. Trong khi tạp thư thì cho ở Dần, Ngọ. Về an thứ hóa thì tuổi Canh cũng bị lộn như Hóa Lộc đi với Thái Dương, Hóa Quyền đi với Vũ khúc, Hóa khoa đi với Thiên Đồng và Hóa Kị đi với Thái âm. Trong khi tạp thư lại an Hóa khoa đi với Thái âm, trong khi Hóa Kị đi với Thiên Đồng.
E. ĐỐI VỚI CÁC SÁCH TỬ VI HIỆN ĐẠI
Trừ bộ Tử Vi đẩu số toàn thư do Vũ Tài Lục lược dịch một vài đoạn, đúng với chính thư, còn các sách khác, chúng tôi không tiện phân tích xem sách của vị nào ảnh hưởng của phái nào bên Trung quốc!
Vân Điền Thái Thứ Lang là một đại đức phật giáo, ông bị tử nạn xe hơi đã lâu, nên chúng tôi có thể bàn về sách của ông. Sách của ông gần với chính phái. Vũ Tài Lục là con của cụ Kép Vũ Huy Chiểu, hiện ở Hoa Kỳ. Hà Lạc dã phu hiện cũng ở Hoa Kỳ, đang làm chính trị. Còn ông Nguyễn Phát Lộc với chúng tôi có chút duyên văn nghệ, trước đây ông là phó đặc ủy Trung ương tình báo VNCH, không rõ nay đâu, nếu ông còn ở VN thì có lẽ đã bị giết rồi.
Chúng tôi quan niệm dù tất cả Tử Vi gia thuộc phái nào chăng nữa, cũng cần có kinh nghiệm. Về phương diện nghề nghiệp, họ phải dùng đến coi Tử Vi lấy tiền làm kế sinh nhai là bất đắc dĩ, bởi bỏ tâm não ra, an sao, chấm số, giải đoán một lá số Tử Vi, không tiền nào, bạc nào trả nổi họ cả. Dù không trả tiền, với tinh thần khoa học, họ cũng say mê nghiên cứu. Chính chúng tôi, kiếm tiền rất dễ dàng, nhưng khi thấy một lá số kỳ lạ, cũng chẳng ngần ngại gì mà không bỏ ra cả ngày ngồi nghiền ngẫm cho ra nguyên lý. 

Học Phong Thủy


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét