Thứ Ba, 26 tháng 2, 2013

Khoa Tử Vi


 Học Phong Thủy

V. KHOA TỬ VI ĐỜI TỐNG
Tống Thái Tổ được truyền khoa Tử Vi bằng bộ Tử Vi Chính Nghĩa, giữ làm của riêng của hoàng tộc họ Triệu. Bộ sách chỉ được lưu truyền trong hoàng cung, để biết kẻ trung, người nịnh, để biết vận số mưu đồ đại sự. Tất cả công trình nghiên cứu của hoàng tộc nhà Tống, sau được chép thành sách gọi là Ngự Giám Tử Vi. Nhưng khi nhà Tống mất rồi, thì con cháu nhà Tống dùng bộ sách này làm kế sinh nhai, nên không dám dùng tên cũ nữa, mà đổi là Triệu Thị Minh Thuyết Tử Vi Kinh. So sánh giữa bộ Tử Vi Chính Nghĩa và Triệu Thị Minh Thuyết Tử Vi Kinh thì bộ thứ nhất có tính chất lý thuyết đại cương, như những định luật. Bộ thứ nhì có tính chất thực nghiệm, thu góp kinh nghiệm mấy trăm năm nghiên cứu lại. Như bộ thứ nhất không bàn đến việc:
- Hai người sinh cùng ngày, giờ, tháng, năm, nhưng số khác nhau. Bộ thứ nhì đi vào chi tiết này rất kỹ.
- Số người sinh đôi. Trong bộ thứ nhì lại nghiên cứu đến mấy trăm cặp sinh đôi.
- Số những người chết tập thể: như chết chìm đò, chết trong chiến tranh. Bộ thứ nhì nghiên cứu kỹ hơn, đưa ra giải quyết v.v...
Sau đây chúng tôi trình bày một giai thoại về Tử Vi đời Tống mà hầu như ai cũng biết, và sử Trung quốc cũng có chép:
“Khi còn cầm quân tranh thiên hạ, Tống Thái Tổ có người anh em kết nghĩa là Trịnh Ân. Ân là một võ tướng dũng mãnh tài ba, vợ Ân là Đào Tam Xuân cũng là một nữ tướng. Cả hai đã giúp cho Thái Tổ thành nghiệp lớn. Thái Tổ phong cho Trịnh Ân tước vương và thay vua trấn thủ ngoài biên trấn. Nhân đầu năm, Thái Tổ xem số các tướng sĩ, văn võ quần thần, thấy số Trịnh ân là Tướng quân, Thiên Tướng thủ mệnh, mà đại hạn gặp Kình dương, tiêu hạn gặp Thiên Hình. Lưu niên Thái Tuế gặp Kiết Kị, mới nói với quần thần rằng:
- Trịnh Ân do hai ông tướng thủ mệnh. Tướng sợ nhất kiếm và đao, không sợ Hỏa, Linh, Kiếp, Không. Nay đại hạn ngộ Kình là dao, tiểu hạn ngộ Hình là Kiếm. Ta e rằng Ân sẽ bị chém mất đầu. Đã vậy lưu niên Thái Tuế gặp Kiếp, Kị thì sẽ do tiểu nhân ám hại. Hơn nữa Kiếp, Kị lại ngộ Hồng, Đào, thì kẻ hại Trịnh Ân sẽ là đàn bà.
Triều đình đề nghị gọi Trịnh Ân về triều để được bảo vệ. Bấy giờ Trịnh Ân đang trấn thủ ngoài xa, nghe lệnh triệu hồi về kinh thì tuân theo. Khi đến kinh, thấy một toán quân hầu hộ vệ kiệu vua, tiền hô hậu ủng. Ân tưởng Thái Tổ vội xuống ngựa phủ phục bên đường tung hô vạn tuế. Nhưng khi ngửng đầu lên thì không phải là vua mà là cha của một phi tần được Thái Tổ sủng ái. Chức tước địa vị của Trịnh Ân cao hơn nhiều, mà phải lạy phục xuống đất thì nhục quá. Trịnh Ân nổi giận, lôi vị quốc cữu kia xuống đất, đánh cho một trận về tội tiếm nghi vệ thiên tử. Vị quốc cữu bị đòn nhừ tử, về nhà báo cho con gái biết, khóc lóc đòi trả thù. Vị vương phi thấy cha bị đòn đau, trở vào cung, phục rượu cho Tống Thái Tổ say mềm, rồi dâng biểu nói Trịnh Ân làm phản, đập phá nghi trượng thiên tử. Tống Thái Tổ say quá, không tự chủ được, phê vào chữ “trảm.” Thế là Trịnh Ân bị mang ra chém đầu. Khi Tống Thái Tổ tỉnh rượu, được triều đình tâu tự sự, thì chỉ còn biết bưng mặt khóc lớn.
Đào Tam Xuân thay chồng trấn ngoài ải, thấy chồng bị chết oan, Tam Xuân truyền quân sĩ để tang, kéo quân về triều hỏi tội. Các tướng phần bất mãn với việc Thái Tổ giết Trịnh Ân, nên không quyết tâm chiến đấu, hơn nữa không địch nổi Tam Xuân nên thua chạy. Tam Xuân vây kinh thành rất gấp. Triều đình tâu giết thứ phi, giết cả nhà quốc cữu, để tạ tội với Tam Xuân. Nhưng Tam Xuân không lui binh.
Tình hình nguy ngập. Triệu Quang Nghĩa tâu với Thái Tổ (Quang Nghĩa là em Thái Tổ, sau được truyền ngôi vua):
- Thần xem số Tam Xuân, thấy Vũ khúc, Phá Quân thủ mệnh. Vũ khúc thì hay giận, Phá Quân thì nhẹ dạ. Tử Vi Kinh nói rằng: chỉ có Lộc Tồn chế được tính ác của Vũ khúc, Thiên Lương chế được tính điên của Phá Quân. Vậy ở đây có vị văn thần nào, Thiên Lương, Lộc Tồn thủ mệnh, đề nghị có thể thuyết phục được Tam Xuân.
Thái Tổ chuẩn tấu, tìm ngay ra vị văn thần tên Cao Hoài Đức có cách trên, sai ra ngoài thành, thuyết phục Tam Xuân. Quả nhiên Tam Xuân lui binh. Từ đấy trong suốt đời Tống, con cháu họ Trịnh được nối tiếp nhau phong tước.”
Như vậy thì Triệu Quang Nghĩa đã học tới trình độ khá uyên thâm khoa Tử Vi, nên dùng phá cách dữ tợn của Tam Xuân, và trợ cách giúp Thái Tổ. Nghiên cứu lá số của Thái Tổ, năm đó đại hạn ngộ Kị, tiểu hạn đi vào cung nô, gặp Thiên thương, Kiếp. Hân Thiên thương gặp Kiếp, Không thường là hạn bị hàm oan, nguy đến tính mệnh. Chính Khổng tử gặp hạn này, bị vây tại nước Tần, hút chết đói. Số của Cao Hoài Đức ngoài Thiên Lương, Lộc Tồn thủ mệnh đại hạn ngộ Quyền, Khốc, Hư, Xương. Lương, Lộc chỉ chế được Tam Xuân. Nhưng chính Quyền, Khốc, Hư, nói Tam Xuân nghe theo, và Văn xương là sao giải hạn Địa kiếp vậy.

 Học Phong Thủy

VI. KHOA TỬ VI SAU HY DI
Hy Di tiên sinh chết, không chỉ định ai là chưởng môn, thành ra học trò tiên sinh mạnh ai nấy nghiên cứu, không thống nhất. Bản chính bộ sách chép tay lại nằm trong hoàng cung, thành ra trong các đệ tử tiên sinh, người được truyền nhiều thì giỏi, người được truyền ít thì dở nhưng vẫn tưởng mình được truyền đầy đủ. Năm 1127, quân Kim chiếm phía Bắc nước Trung Hoa, nhà Tống di cư xuống phương Nam. Khoa Tử Vi theo đó cũng chia làm Bắc tông và Nam tông. Bắc tông thì theo đúng Hy di không sửa đổi gì về các sao, an sao, chỉ nghiên cứu áp dụng rộng ra giống như hoàng tộc nhà Tống. Còn Nam phái bị ảnh hưởng của khoa bói dịch, nên đổi rất nhiều.
A. VÒNG THÁI TUẾ. Theo Hy Di có 5 sao là Thái Tuế, Tang Môn, Bạch Hổ, Điếu khách, Quan phù. Trong khi Nam phái thêm vào 7 sao nữa là Thiên Không, Thiếu Âm, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Phúc Đức, Trực Phù. Vị trí chính của sao Thiên Không được thay bằng sao Địa Không.
B. GIẢI ĐOÁN VẬN HẠN. Theo Hy Di tiên sinh thì đại hạn thứ nhất bắt đầu từ cung huynh đệ hoặc phụ mẫu. Trong khi Nam phái đổi là khởi từ cung mệnh. Rồi họ thêm những thứ đặc biệt như hạn Tam tai, hạn Huyết lộ, hạn Ác thần, rồi căn cứ vào đó, coi mỗi vì sao như một ông thần, phải cúng bái trừ tà.
Người ta quen gọi chính phái là Bắc phái và Nam phái là phái Hà Lạc.
Đời nguyên khoa Tử Vi bị cấm ngặt, bởi dân Trung Hoa đồng hóa khoa Tử Vi với đời Tống, nên Nguyên triều cấm đoán cũng không có gì lạ. Suốt đời nhà Minh khoa Tử Vi không có gì đặc sắc, chỉ mô phỏng những điều đã có từ đời Tống. Đến đời nhà Thanh, vua nhà Thanh thấy rằng: Mấy ông Tử Vi thường được lòng dân chúng. Nhiều ông mượn cớ coi Tử Vi để khích dân chúng nổi dậy chống triều đình. Vua Khang Hi mời tất cả những nhà danh tiếng về kinh, phong cho mỗi vị một chức quan để biến các vị thành tôi tớ triều đình. Lại cử một người Thanh đứng ra cai quản các vị này soạn bộ Tử Vi Đại Toàn. Bộ này chưa in thành sách. Trong dịp bát quốc xâm lăng Trung Hoa, thì Pháp, Nhật mỗi nước lấy một bản.
Có hai thuyết nói về khoa Tử Vi truyền vào Việt Nam.
Thuyết thứ nhất nói rằng một nhân viên sứ đoàn Đại Việt thời Lý tên Trần Tự Mai đã trộm được trọn vẹn bộ Tử Vi Chính Nghĩa và bộ Ngự Giám Tử Vi, rồi đem về nước. Nhưng chính Tự Mai cũng chỉ nghiên cứu rồi truyền cho con cháu. Nên sau này Hoàng Bính đem Tử Vi cho vua Trần, thì có cuộc tranh luận về Tử Vi giữa Hoàng Bính với Chiêu minh vương Trần Quang Khải và Chiêu quốc vương Trần Ích Tắc.
Một thuyết khác nói: Khoa Tử Vi truyền vào Đại Việt từ niên hiệu Nguyên phong thứ 7 đời vua Trần Thái Tông (1257). Người truyền sang Đại Việt là tiến sĩ Hoàng Bính. Hoàng Bính sinh vào  niên hiệu Gia Thái thứ nhì đời Tống Ninh Tông (1203), đậu tiến sĩ, làm thị độc học sĩ (chức quan đọc sách và giảng sách cho vua nghe) thời Tống Lý Tông. Năm Bảo Hựu nguyên niên (1253) tiên sinh nhân ở chức vụ thị độc học sĩ, nên nghiên cứu, hiểu tường tận các bộ sách Tử Vi Chính Nghĩa và Triệu Thị Minh Thuyết Tử Vi Kinh, tiên sinh nghiên cứu số Tử Vi của vua, hoàng hậu, các vương thần, khanh sĩ văn võ đại thần, thì thấy số người nào cũng sắp tán gia bại sản, hoặc chết thê thảm, hoặc gia đình ly tán. Lúc đầu tiên sinh cho rằng có cuộc thay đổi ngôi vua trong triều, nhưng sau xem đến các vị trấn thủ đại thần, cũng đều tương tự cả. Tiên sinh cho rằng đó là vận nước sắp mất. Tiên sinh lại xem số của mình và vợ, con, đều thấy thân cư Thiên Di, mệnh lập tại Tý, cung Thiên Di ở Ngọ. Tiên sinh mới giải đoán rằng: Tý là phương Bắc, Ngọ là phương Nam, vậy gia đình mình có số lập nghiệp ở phương Nam. Lại xem Thiên Văn, thấy các tinh hoa đều tụ cả ở phương Nam, mới bàn với phu nhân rằng:
- Ta xem Thiên Văn thấy phương Nam sáng rực, tương lai thánh nhân đều xuất hiện ở đó. Nay quân Thát Đát (Mông Cổ) chiếm gần hết giang sơn rồi, mà triều đình trên thì hôn ám, các quan thì nhũng lạm, lòng dân đã mất, cái vạ vong quốc không xa cho lắm. Âu là ta cáo quan về hưu, rồi đem tộc thuộc xuống miền Nam lánh nạn.
Năm 1257, Hoàng Bính mang tộc thuộc hơn ba nghìn người đến biên giới Hoa Việt, xin được vào đất Đại Việt “làm cư dân”. Vua Thái Tông nhà Trần sai người lên tra xét, thấy họ quả thực tình, không có chi giả dối, mới thuận cho Hoàng Bính lập nghiệp ở vùng Yên Bang. Hoàng Bính dâng người con gái út 16 tuổi, nhan sắc diễm lệ, lầu thông thi thư và thuật số, Tử Vi. Vua Trần Thái Tông thu nhận, phong làm Huệ Túc phu nhân, rất sủng ái.
Khoa Tử Vi được triều Trần biết đến trong một trường hợp đặc biệt: Thái tử Hoảng bị bệnh, mê man suốt ba ngày rồi mắt trợn ngược, tưởng qua đời. Vua đem thanh Thượng Phương Bảo Kiếm và áo ngự bào để bên cạnh, rồi tuyên chỉ:
- Nếu tỉnh dậy thì ban cho.
Ý nói sẽ truyền ngôi. Nhưng thái tử mắt vẫn trợn ngược. Hoàng hậu, phi tần khóc lóc thảm thiết, chuẩn bị chôn cất, nhân thấy Huệ Túc phu nhân văn hay chữ tốt, có ý nhờ viết bài vị. Vì vậy phu nhân biết ngày, giờ, tháng, năm sinh của thái tử. Phu nhân bấm số, rồi tâu:
- Xin hoàng hậu đừng lo, thái tử chỉ mê man thôi, giờ Sửu ngày mai sẽ tỉnh dậy.
Vua và hoàng hậu đều tin tưởng và hỏi tại sao phu nhân biết, tâu:
- Thần tính số Tử Vi của thái tử, thấy Đồng, Âm thủ mệnh tại Tý. Cung phúc tại Dần, có Cự, Nhật. Tử Vi Kinh nói rằng:
“Phú, thọ, quí, vinh, yểu, bần, ai khổ,
Do ư phúc trạch cát hung.”
Nghĩa là: Giầu, sống lâu, làm lớn, tiếng tăm, chết non, đau thương, khổ, do cung phúc tốt hay xấu. Đây cung phúc của thái tử có Cự, Nhật tại Dần, lại có Tả, Hửu, Xương, Khúc hợp chiếu thì căn cơ là người thọ lắm. Mệnh lại được Đồng, Âm tại Tý...Thế thì thái tử không chết non, sau còn trở thành vị minh quân, anh hùng, tạo sự nghiệp rạng rỡ cho họ Đông A nhà Đại Việt nữa. Hiện thái tử bị hạn Tang, Hổ, Kiếp, Hình thì đau yếu nặng đó thôi. Vua, hoàng hậu phân vân, chờ cho đến giờ Sửu hôm sau thì thái tử tỉnh dần, rồi khỏi hẳn. Sau là vua Trần Thánh Tông, một vị anh hùng trong lịch sử Đại Việt.
Nhân đó vua Thái Tông mới hỏi lý do tại sao phu nhân biết, phu nhân mới trình bày khoa Tử Vi. Vua Thái Tông triệu Hoàng Bính vào cung, tiên sinh dâng lên hai bộ sách Tử Vi Chính Nghĩa và Triệu Thị Minh Thuyết Tử Vi Kinh. Vua Thái Tông và hoàng tộc nhà Trần lại đua nhau nghiên cứu Tử Vi, và dùng như một nguyên tắc để cử người giúp nước.
Qua những lá số được Huệ Túc phu nhân và vương hầu đời Trần chấm còn để lại, ngày nay chúng ta thấy được nhiều khía cạnh lịch sử. Như hiện trong văn học sử, người ta không biết vị thiền sư đắc đạo Tuệ Trung thượng sĩ đời Trần, bản sư của vua Trần Nhân Tông là Trần Quốc Tung anh ruột Hưng Đạo vương hay là Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng, con thứ nhì của Hưng Đạo vương? Căn cứ vào lá số Tử Vi do Huệ Túc phu nhân, người sống đồng thời với Hưng Đạo vương, lại là thím của ngài, là sư phụ của ngài về khoa Tử Vi, thì những gì do phu nhân viết về ngài phải đúng. Hơn nữa phu nhân lại la người tích cực tiến cử ngài giữ chức vụ Tiết Chế Quân Mã tức là Tổng Tư Lệnh Quân Đội; thì chắc chắn tình nghĩa thím cháu, vua tôi, thày trò, phu nhân viết về gia đình Hưng Đạo vương không sai. Phu nhân chấm số cho Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng (1252-1313) có phê như sau:
“...Kinh vân: Tử, Tham, Mão Dậu, đa vi thoát tục chi tăng. Ngô kim nhật kiến Tuệ Trung chi số: Tử, Tham ư Dậu, ngộ Quyền, Đào, tuấn nhã chi lang. Tả, Hữu hợp chiếu thị tất đa tài, đa năng. Đãn Hiềm Tử, Tham cư Dậu ngộ Không, Kị tất thoát tục vi tăng.”
Nghĩa là sách Tử Vi nói rằng: Người mệnh lập tại Dậu, hay Mão, mà có Tử Vi, Tham Lang thủ mệnh đa số là người thoát tục đi tu. Nay ta xem số của Tuệ Trung thì thấy mệmh lập tại Dậu, Tử Vi, Tham Lang thủ mệnh, còn gặp Đào Hoa, Hóa Quyền thì là người đẹp đẽ, được Tả, Hữu hợp chiếu thì là người đa tài, đa năng. Nhưng tiếc rằng cái số mà mệnh lập tại Dậu, Tử Vi, Tham Lang thủ mệnh, gặp Thiên Không, Hóa Kị thì thế nào cũng đi tu.
Từ sự kiện trên, thì ta tìm ra được Tuệ Trung thượng sĩ là Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng chứ không phải là Trần Quốc Tung.
Qua các tài liệu còn lại, thì khoa Tử Vi đời Trần có một sắc thái đặc biệt hơn ở Trung quốc, đó là vấn đề phá cách và trợ cách. Câu chuyện Đoàn Nhữ Hài là một bằng cớ. Nếu Tống Thái Tổ biết Trịnh Ân bị nạn mà cứu không được, thì vua Trần Nhân Tông biết Đoàn Nhữ Hài bị nạn mà cứu thoát. Câu chuyện như sau:
Đoàn Nhữ Hài là học trò trường Quốc Tử Giám ở Thăng long. Năm 20 tuổi, Hài chuẩn bị để thi thái học sinh (tiến sĩ). Muốn được thi thái học sinh thì Hài phải qua một kỳ khảo hạch của trường trước. Nếu thấy khá mới được cử đi thi. Một hôm ra chùa Diên Hựu (chùa một cột) chơi, thấy vị tăng ngồi nhìn trời, Hài hỏi:
- Bạch hòa thượng, tiểu sinh nghe rằng người tu hành có thể biết được vận số sau này sẽ ra sao, có đúng không?
Hòa thượng hỏi:
- Tiên sinh muốn biết điều gì?
- Tiểu sinh muốn biết mai sau hoạn lộ ra sao. Tiểu sinh mong sư phụ chỉ giáo cho tương lai.
Hòa thượng hỏi ngày, giờ, tháng, năm sinh của Hài rồi nói:
- Số tiên sinh là số tá cửu trung ư kim diện nghĩa rằng phò tá vua ở sân rồng, tức là số làm tới tể tướng. Mệnh lập tại Mùi; Tả, Hữu thủ mệnh là người đa tài đa năng. Tử Vi Kinh nói, Tả phụ, Hữu bật bỉnh tính khắc khoan khắc hậu, nên tính tình từ tốn, hành sự cẩn trọng. Cái cách Nhật tại Mão, Nguyệt tại Hợi chiếu là cách Nhật, Nguyệt tịnh minh, nên thì sớm gặp minh quân. Nhưng vì tiên sinh có một cách rất xấu: Đào Hoa, Hồng loan cư nô, lại gặp Hình, thì tất thế nào cũng vì đàn bà mà tan nát sự nghiệp, đến phải vong mạng. Đáng tiếc, đáng tiếc.
Hài mừng lắm trở về lo học hành, tháng sau trong kỳ thi khảo hạch của trường Quốc Tử Giám, Hài bị trượt, vì văn ngông nghênh, kênh kiệu quá. Hài giận lắm tìm vị hòa thượng hỏi:
- Hôm trước đại sư đoán rằng sau này tôi sẽ làm tể tướng, thế sao tôi thi trượt? Không đậu thì làm sau thi thái học sinh được? Không đậu thái học sinh thì sao có thể làm tể tướng?
Vị hòa thượng cười đáp:
- Từ xưa đến giờ có biết bao nhiêu vị tể tướng mà không đậu đại khoa? Bần tăng đoán tiên sinh làm tể tướng chứ có đoán tiên sinh thi đậu đâu? Này, năm nay tiểu hạn tiên sinh nhập cung Dậu được Thái Dương miếu địa, Hóa khoa từ Mão chiếu sang thì thanh vân đắc lộ, được gặp thiên nhan. Nhưng đại hạn đóng ở cung Tỵ, Thiên mã gặp Đà la là ngựa què. Ngựa đã què còn đi đến cung Dậu gặp Tuần thì ngựa bị chặt cụt chân. Vậy khi nào tiên sinh bị ngựa cắn hoặc đá là lúc gặp vua. Nhưng tiên sinh nhớ một điều: Khi được gặp vua, nếu hoàng thượng ban thưởng cho bao nhiêu vàng bạc, phải nộp cho lão tăng một nửa.
Hài mừng lắm, về nhà, đúng ngày mà hòa thượng đoán gặp vua, không thấy linh nghiệm. Hài tìm đến chùa Diên hựu để hỏi tội hòa thượng. Nhưng trên đường đi, Hài bị một người cưỡi ngựa đụng phải, té lăn vào bụi cỏ. Hài túm lấy dây cương hạch tội:
- Nhà ngươi đi đâu mà có mắt như mù, đụng phải ta?
Người cưỡi ngựa, mình chỉ có mặc áo lót, mũ đội phía sau ra trước, nhảy xuống ngựa tạ lỗi:
- Xin lỗi tiên sinh, tôi đi tìm cha để tạ lỗi. Tiên sinh có biết chữ không? Tôi muốn nhờ tiên sinh một việc đây!
Hài bực mình nói:
- Ta đã học trường Quốc Tử Giám, sắp thi thái học sinh, thì Bạch Gia, Chu Tử, Cửu Lưu Tam Giáo đều thông. Sao lại không biết chữ?
Người cưỡi ngựa tiếp:
- Vậy tiên sinh làm dùm tôi bài biểu tạ tội với cha tôi, tôi sẽ bảo quan Quốc Tử Giám tư nghiệp cho tiên sinh đậu. Năm sau thi thái hoc sinh tôi sẽ lấy tiên sinh đậu trạng nguyên, được chăng?
- Nhà ngươi điên à? Nhà ngươi có biết rằng chỉ có một người có thể cho học sinh đậu trạng nguyên , đó là vua. Nhà ngươi là ai mà dám nói lớn lối như vậy?
Người kia đáp:
- Tôi là vua đây.
Đoàn Nhữ Hài nhìn lại mũ người đó, quả là vua, vội thụp xuống đất tạ tội.
Người cưỡi ngựa chính là vua Trần Anh tông. Sau khi thắng quân Mông cổ, năm 1293 vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là Trần Anh tông rồi đi tu. Vua Anh Tông thường rượu chè say sưa. Nhân một hôm uống rượu Xương bồ sau quá nằm ngủ, thì Thượng hoàng từ Thiên trường về Thăng long. Quan trong triều không ai biết cả. Nhân Tông thong thả xem cung điện từ giờ Thìn đến giờ Tỵ. Thái giám dâng cơm. Thượng hoàng không thấy vua đâu, hỏi thái giám. Thái giám đánh thức vua dậy, nhưng vua say quá không tỉnh được. Thượng hoàng giận quá bỏ về, lệnh cho quan về Thiên trường họp, có ý truất phế Anh Tông. Đến giờ Mùi Anh Tông mới tỉnh dậy, cung nhân đem việc ấy tâu. Vua sợ quá không kịp mặc áo, nhảy lên ngựa, chạy tới chùa Tư phúc thì đụng phải Đoàn Nhữ Hài. Hai người xuống thuyền xuôi về Thiên trường. Dọc đường Đoàn Nhữ Hài làm tờ biểu dài hai nghìn chữ tạ tội. Nhưng thượng hoàng vẫn còn giận, không cho vào. Hai người phải quì ở ngoài. Các quan liếc mắt nhìn văn biểu, thấy văn hay, truyền nhau đọc.
Thượng hoàng nghe được hỏi:
- Văn ở đâu mà hay như vậy?
Các quan tâu rằng đó là đại biểu tạ tội của vua. Thượng hoàng truyền:
- Đưa vào đây!
Ý ngài muốn nói rằng đưa đại biểu vào, nhưng các quan hiểu lầm, đưa cả vua và Đoàn Nhữ Hài vào. Thượng hoàng thấy sự đã rồi, đành tiếp biểu xem, thấy lời văn điêu luyện, thống thiết, bèn xá tội cho vua Anh Tông. Ngài phán rằng:
- Ta đang cần một thiếu niên anh tài phụ tá cho con ta. Nay gặp tiên sinh ở đây thực là may mắn.
Hài trình việc gặp hòa thượng ở chùa Diên hựu, được hòa thượng đoán trước sự việc. Thượng hoàng phán:
- Khoa Tử Vi do Hoàng Bính truyền sang Đại Việt, khoa này đâu có truyền ra ngoài dân dã? Hòa thượng xem Tử Vi cho tiên sinh đó là sư phụ của ta, tức là Huệ Trung thượng sĩ đó (Trần Quốc Tảng).
Hài nghe xong hoảng sợ, nghĩ hôm trước nếu mình gây với hòa thượng thì ốm đòn rồi. Bởi Tuệ Trung là một vỏ học danh gia đời Trần.
Thượng hoàng hỏi số của Hài, rồi phán:
- Số của tiên sinh là số bậc tể thần. Sau này làm nên sự nghiệp hiển hách. Nhưng tiếc rằng Đào, Hồng cư nô thì thế nào cũng xảy ra việc bất chính trong tình trường, lại thêm Tham, Hình nữa thì thế nào cũng vì má đào mà sự nghiệp tan vỡ, chết vì nghiệp tình, đáng tiếc thay.
Vua Anh Tông tâu rằng:
- Thần nhi nghe nói căn cứ vào khoa Tử Vi có thể cải được số mạng. Thỉnh cầu phụ hoàng có cách nào cứu được Đoàn tiên sinh không?
Thượng hoàng bèn xé tờ bìa cuốn kinh Kim Cương viết mấy chữ Tứ đại giai không, miễn tử trao cho Đoàn Như Hài. Tứ đại giai không là chữ lấy trong kinh Kim Cương: “Vô nhân tướng, vô ngã tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tưởng, tứ đại giai không.” Nghĩa là không có Hình Tượng của người, của ta, của chúng sinh, không có gì lâu dài cả. Bốn cái đó đều là hư ảo.
Thượng hoàng phán:
- Ta xem số thấy cái vạ vì má đào của tiên sinh sắp tới. Nay ta trao cho tiên sinh mảnh giấy này, khi bị nạn có thể dùng đến để cứu mạng. Muốn giải cái hạn Đào, Hồng, Hình, Tham thì phải dùng đến Quyền. Nay ta viết chữ miễn tử tức là dùng quyền rồi, phụ với Hóa Quyền đóng chung với Tham Lang nữa. Muốn giải hạn Thiên Hình thì dùng đến Không vong. Ta dùng bìa cuốn kinh Kim Cương tức là dùng cái Không của đạo Phật. Như vậy mong có thể cứu được tiên sinh.
Trở về Thăng long, vua Anh Tông phong Đoàn Nhữ Hài làm Ngự sử trung tán, đây là lần đầu tiên một người không đậu đạt gì, tuổi 20 được phong làm Ngự sử trung tán. Người thời đó ganh ghét, làm thơ diễu Hài như sau:
“Phong kiến luận đàm truyền cổ ngữ,
Khẩu tồn nhũ xú Đoàn trung tán.”
Có nghĩa là ôn câu cổ ngữ tại đài ngự sử. Miệng của trung tán Đoàn Nhữ Hài còn hôi sữa. Ba năm sau, hạn của Đoàn Nhữ Hài qua cung Tý gặp Đào, Hồng, Tham, Quyền và Thiên thương, triều đình khám phá ra mối tình của Đoàn Nhữ Hài với cung nữ của vua Anh Tông.
Luật triều đình rất khắc khe với tội ngoại tình. Ngay với thường dân khi ngoại tình xẩy ra, thì gian phụ bị tội tử hình, dâm phụ tùy theo người chồng tha hay không. Nay tội đó xảy ra giữa một đại thần và cung nữ. Nên cả hai bị khép tội chém đầu. May nhờ có thủ bút của thượng hoàng, viết trên bìa cuốn kinh Kim Cương nên cả hai được miễn tử. Vua Anh Tông truyền cung nữ cho Đoàn Nhữ Hài.
Đoạn trên đây chúng tôi tóm lược trong sách Đông A Di sự, phần Đoàn Nhữ Hài liệt truyện.

 Học Phong Thủy

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét