TUỔI NHÂM TÝ
Mệnh Tang Đố Mộc (Gỗ cây dâu)
Sinh từ :
19 tháng 3 năm 1912 đến 8 tháng 3 năm 1913
15 tháng 2 năm 1972 đến 30 tháng 4 năm 1973
Học Phong Thủy
1. Vận hạn theo tháng
1.1. Tháng 1, 2 thuộc mộc, chi Tý thuộc thủy, can Nhâm
thuộc thủy, bổn mệnh thuộc mộc, như vậy hai mộc được Can, Chi sinh ra. Tháng 1,
2 bao giờ cũng là những tháng phát tài của tuổi. Tháng 1 gặp hạn
"hao", nhưng được cả Tuần lẫn Triệt án ngữ, nên không ngại.
1.2. Tháng 3, 6, 9, 12 là tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi
thuộc thổ. Can, Chi thuộc thủy bị khắc, nhưng bản mệnh thuộc mộc, gặp thổ rất
tốt. Những tháng này nên mưu sự, kiến cơ lập nghiệp dễ thành công.
1.3. Tháng 4, 5 thuộc hỏa, mộc sinh hỏa. Những tháng
này về tiền bạc, công danh khá, nhưng cẩn thận nếu không bệnh tật sinh ra. Hoả
vượng, tính tình dễ sinh nóng nảy, gắt gỏng, cần tự chế để khỏi hư việc.
1.4. Tháng 7, 8 thuộc kim khắc bản mệnh thuộc mộc, hay
có bệnh, làm ăn không được đạt như ý.
1.5. Tháng 10, 11, thuộc thủy. Thủy sinh mộc, làm ăn
thịnh đạt, nhất là tháng 10 gặp hạn Lộc-tồn.
2. Vận hạn theo đại tiểu hạn
2.1. Đại hạn đến cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, hoặc tiểu
hạn năm Tý,,Ngọ, Mão, Dậu. Cả nam lẫn nữ, tiểu hạn qua Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là
năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Đó là những cung thổ, bản mệnh thuộc mộc được nuôi
dưỡng, bệnh tật, tai ương giảm, làm ăn thịnh vượng, gia đạo yên vui. Nếu được
cát tinh càng thêm tốt, nếu ngộ hung tin cũng không đáng sợ. Trừ những người
nhập hạn cung Thìn, Tuất mà sinh tháng 2, 8. Người nhập đại hạn cung Sửu, Mùi,
sinh tháng 5, 11 sẽ đáo tụng đình, hoặc bệnh tật.
2.2. Đại hạn qua cung Mão, nam mạng năm Tý, nữ mạng
năm Mùi qua cung Mão đều ngộ cả Tuần lẫn Triệt. Không sợ tai ương, nhưng không
nên mưu đồ đại sự.
2.3. Đại hạn qua cung Tỵ, nam mạng tiểu hạn năm Mùi,
nữ mạng tiểu hạn năm Tý đều đến cung Tỵ. Cung Tỵ thuộc hỏa, bản mệnh thuộc mộc,
phải cẩn thận điều tiếng, bệnh hoạn, cần phải tự chế, để khỏi mất lòng mọi
người. Người sinh tháng 1, 9 ắt kiện cảo khó tránh.
2.4. Đại hạn tới cung Dậu, hoặc nam mạng tiểu hạn năm
Hợi, nữ mạng tiểu hạn năm Sửu tiểu hạn qua cung Dậu thuộc kim. Kim khắc bổn
mạng thuộc mộc. Coi chừng bệnh phổi, bệnh thần kinh, mọi sự bế tắc. Người sinh
tháng 1, 7 phải nói rằng bị mổ xả, kiện cáo, đau yếu.
2.5. Đại hạn tới cung Hợi, nam mạng tiểu hạn năm Sửu,
nữ mạng tiểu hạn năm Hợi tiểu hạn qua cung Hợi thuộc thủy. Thủy sinh bổn mạng
thuộc mộc, mọi sự tốt đẹp, nhất là gặp hạn Lộc-tồn, tiền bạc, sức khỏe đều
thuận lợi. Trừ người sinh tháng 3, 9 e bị lừa tiền bạc, đau yếu, kiện cáo.
3. Phải nhớ tính chất đặc thù của tuổi Tý là Khi đại
tiểu hạn qua cung Dần-Thân, hay Tý-Ngọ rất xấu. Cái cách độc hại nhất là
đại-tiểu hạn tương xung ở Dần-Thân hoặc Tý-Ngọ. Có sao tốt tọa thủ ở trong thì
cũng nghiêng ngửa, chẳng may sát tinh tọa thủ cả hai nơi, phải nói rằng đó là
hạn chết.
Tử-vi kinh nói :
Nhân sinh Tý mệnh kị Dần, Thân.
Nghĩa là tuổi Tý kị hạn tới cung Dần, Thân.
Lại cũng nói :
Tý, Ngọ bất nghi đáo bản thân.
Nghĩa là tuổi Tý, Ngọ khi hạn đến cung Tý, Ngọ rất
độc.
Vậy khi đại hạn đến Tý, Ngọ, Dần, Thân là xấu. Còn
tiểu hạn các năm Thìn, Tuất, Dần, Thân qua cung Tý, Ngọ, Dần, Thân cũng xấu.
4. Như trong phần đầu, chúng tôi nói : Âm-d ương,
Ngũ-hành là cái dây lớn của lưới cá, chỉ dùng làm đại lược, còn tùy theo từng
lá số, tùy theo sao tọa thủ từng cung. Nếu theo Âm-d ương, Ngũ-hành mà tốt, thì
dù gặp sao tọa thủ xấu cũng không đáng sợ. Còn khi sao tọa thủ tốt, mà Âm-d
ương, Ngũ-hành xấu, xấu được giảm đi.
Học Phong Thủy
1. Nhâm-Tý là một tuổi nhiều dương tính trong 5 tuổi
Tý. Quan niệm Á-châu cho rằng nam hoạt động ngoài xã-hội, nữ nên hoạt động tại
nhà (Nam tại ngoại, nữ tại nội) nên mới có câu : "Nam Nhâm, nữ Quí".
Với quan niệm đó, nữ mệnh tuổi Nhâm-Tý thường bị xã hội nhìn bằng con mắt khắt
khe, bởi có cử chỉ, hành động như nam giới.
2. Ngày nay xã hội đã biến đổi, nam hay nữ Nhâm đều
quí cả : Họ hăng hái hoạt động, tính tình cương trực, can đảm.
3. Tuổi Nhâm-Tý mệnh Tang-đố-mộc, chi thuộc thủy, can
cũng thuộc thủy, sinh ra bản mệnh, nên cuộc đời đầy thuận lợi cho họ. Cứ mỗi
biến cố xấu, họ lại vượt lên trên đời một bậc.
4. Họ biết mình, biết người, hòa hợp được những mâu
thuẫn nội tâm.
5. Về tình duyên, họ cũng hấp dẫn người khác phái. Họ chủ
động trong tình yêu, ít gặp những éo le trong tình trường. Nữ mạng Nhâm-Tý rất
mạnh về phương diện tình dục. Người chồng, người yêu phải hiểu họ, họ không
phải là " Bà chằng tinh " như những thầy Tử-vi tay mơ gán cho họ.
6. Người cộng tác của Nhâm-Tý phải hiểu rằng bản tính
nhìn mọi người. Đối xử với mọi người như nhau là thiên tính của họ, không thể
bắt họ thay đổi được. Chính tính này, họ không có người thân tín, không có
những kẻ sống chết với họ.