Thứ Tư, 3 tháng 4, 2013

TUỔI NHÂM TÝ PHẦN 8


TUỔI NHÂM TÝ
Mệnh Tang Đố Mộc (Gỗ cây dâu)
Sinh từ :
19 tháng 3 năm 1912 đến 8 tháng 3 năm 1913
15 tháng 2 năm 1972 đến 30 tháng 4 năm 1973

 Học Phong Thủy

X. VẬN HẠN TUỔI NHÂM TÝ
1. Vận hạn theo tháng
1.1. Tháng 1, 2 thuộc mộc, chi Tý thuộc thủy, can Nhâm thuộc thủy, bổn mệnh thuộc mộc, như vậy hai mộc được Can, Chi sinh ra. Tháng 1, 2 bao giờ cũng là những tháng phát tài của tuổi. Tháng 1 gặp hạn "hao", nhưng được cả Tuần lẫn Triệt án ngữ, nên không ngại.
1.2. Tháng 3, 6, 9, 12 là tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thuộc thổ. Can, Chi thuộc thủy bị khắc, nhưng bản mệnh thuộc mộc, gặp thổ rất tốt. Những tháng này nên mưu sự, kiến cơ lập nghiệp dễ thành công.
1.3. Tháng 4, 5 thuộc hỏa, mộc sinh hỏa. Những tháng này về tiền bạc, công danh khá, nhưng cẩn thận nếu không bệnh tật sinh ra. Hoả vượng, tính tình dễ sinh nóng nảy, gắt gỏng, cần tự chế để khỏi hư việc.
1.4. Tháng 7, 8 thuộc kim khắc bản mệnh thuộc mộc, hay có bệnh, làm ăn không được đạt như ý.
1.5. Tháng 10, 11, thuộc thủy. Thủy sinh mộc, làm ăn thịnh đạt, nhất là tháng 10 gặp hạn Lộc-tồn.
2. Vận hạn theo đại tiểu hạn
2.1. Đại hạn đến cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, hoặc tiểu hạn năm Tý,,Ngọ, Mão, Dậu. Cả nam lẫn nữ, tiểu hạn qua Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Đó là những cung thổ, bản mệnh thuộc mộc được nuôi dưỡng, bệnh tật, tai ương giảm, làm ăn thịnh vượng, gia đạo yên vui. Nếu được cát tinh càng thêm tốt, nếu ngộ hung tin cũng không đáng sợ. Trừ những người nhập hạn cung Thìn, Tuất mà sinh tháng 2, 8. Người nhập đại hạn cung Sửu, Mùi, sinh tháng 5, 11 sẽ đáo tụng đình, hoặc bệnh tật.
2.2. Đại hạn qua cung Mão, nam mạng năm Tý, nữ mạng năm Mùi qua cung Mão đều ngộ cả Tuần lẫn Triệt. Không sợ tai ương, nhưng không nên mưu đồ đại sự.
2.3. Đại hạn qua cung Tỵ, nam mạng tiểu hạn năm Mùi, nữ mạng tiểu hạn năm Tý đều đến cung Tỵ. Cung Tỵ thuộc hỏa, bản mệnh thuộc mộc, phải cẩn thận điều tiếng, bệnh hoạn, cần phải tự chế, để khỏi mất lòng mọi người. Người sinh tháng 1, 9 ắt kiện cảo khó tránh.
2.4. Đại hạn tới cung Dậu, hoặc nam mạng tiểu hạn năm Hợi, nữ mạng tiểu hạn năm Sửu tiểu hạn qua cung Dậu thuộc kim. Kim khắc bổn mạng thuộc mộc. Coi chừng bệnh phổi, bệnh thần kinh, mọi sự bế tắc. Người sinh tháng 1, 7 phải nói rằng bị mổ xả, kiện cáo, đau yếu.
2.5. Đại hạn tới cung Hợi, nam mạng tiểu hạn năm Sửu, nữ mạng tiểu hạn năm Hợi tiểu hạn qua cung Hợi thuộc thủy. Thủy sinh bổn mạng thuộc mộc, mọi sự tốt đẹp, nhất là gặp hạn Lộc-tồn, tiền bạc, sức khỏe đều thuận lợi. Trừ người sinh tháng 3, 9 e bị lừa tiền bạc, đau yếu, kiện cáo.
3. Phải nhớ tính chất đặc thù của tuổi Tý là Khi đại tiểu hạn qua cung Dần-Thân, hay Tý-Ngọ rất xấu. Cái cách độc hại nhất là đại-tiểu hạn tương xung ở Dần-Thân hoặc Tý-Ngọ. Có sao tốt tọa thủ ở trong thì cũng nghiêng ngửa, chẳng may sát tinh tọa thủ cả hai nơi, phải nói rằng đó là hạn chết.
Tử-vi kinh nói :
Nhân sinh Tý mệnh kị Dần, Thân.
Nghĩa là tuổi Tý kị hạn tới cung Dần, Thân.
Lại cũng nói :
Tý, Ngọ bất nghi đáo bản thân.
Nghĩa là tuổi Tý, Ngọ khi hạn đến cung Tý, Ngọ rất độc.
Vậy khi đại hạn đến Tý, Ngọ, Dần, Thân là xấu. Còn tiểu hạn các năm Thìn, Tuất, Dần, Thân qua cung Tý, Ngọ, Dần, Thân cũng xấu.
4. Như trong phần đầu, chúng tôi nói : Âm-d ương, Ngũ-hành là cái dây lớn của lưới cá, chỉ dùng làm đại lược, còn tùy theo từng lá số, tùy theo sao tọa thủ từng cung. Nếu theo Âm-d ương, Ngũ-hành mà tốt, thì dù gặp sao tọa thủ xấu cũng không đáng sợ. Còn khi sao tọa thủ tốt, mà Âm-d ương, Ngũ-hành xấu, xấu được giảm đi.

 Học Phong Thủy


XI. KẾT LUẬN
1. Nhâm-Tý là một tuổi nhiều dương tính trong 5 tuổi Tý. Quan niệm Á-châu cho rằng nam hoạt động ngoài xã-hội, nữ nên hoạt động tại nhà (Nam tại ngoại, nữ tại nội) nên mới có câu : "Nam Nhâm, nữ Quí". Với quan niệm đó, nữ mệnh tuổi Nhâm-Tý thường bị xã hội nhìn bằng con mắt khắt khe, bởi có cử chỉ, hành động như nam giới.
2. Ngày nay xã hội đã biến đổi, nam hay nữ Nhâm đều quí cả : Họ hăng hái hoạt động, tính tình cương trực, can đảm.
3. Tuổi Nhâm-Tý mệnh Tang-đố-mộc, chi thuộc thủy, can cũng thuộc thủy, sinh ra bản mệnh, nên cuộc đời đầy thuận lợi cho họ. Cứ mỗi biến cố xấu, họ lại vượt lên trên đời một bậc.
4. Họ biết mình, biết người, hòa hợp được những mâu thuẫn nội tâm.
5. Về tình duyên, họ cũng hấp dẫn người khác phái. Họ chủ động trong tình yêu, ít gặp những éo le trong tình trường. Nữ mạng Nhâm-Tý rất mạnh về phương diện tình dục. Người chồng, người yêu phải hiểu họ, họ không phải là " Bà chằng tinh " như những thầy Tử-vi tay mơ gán cho họ.
6. Người cộng tác của Nhâm-Tý phải hiểu rằng bản tính nhìn mọi người. Đối xử với mọi người như nhau là thiên tính của họ, không thể bắt họ thay đổi được. Chính tính này, họ không có người thân tín, không có những kẻ sống chết với họ.

 Học Phong Thủy


TUỔI NHÂM TÝ PHẦN 7


TUỔI NHÂM TÝ
Mệnh Tang Đố Mộc (Gỗ cây dâu)
Sinh từ :
19 tháng 3 năm 1912 đến 8 tháng 3 năm 1913
15 tháng 2 năm 1972 đến 30 tháng 4 năm 1973

 Học Phong Thủy

IX. BỆNH TẬT TUỔI NHÂM TÝ
1. Tuổi Nhâm-Tý mạng mộc, trong học thuyết Âm-D ương, Ngũ-hành liên hợp với :
Ngũ-khí : Phong.
Ngũ-hoá : Sinh.
Tạng-phủ : Can, đởm. Liên hợp với túc Thiếu-dương đởm kinh và túc Khuyết-âm can-kinh.
Ngũ quan : Mắt.
Hình thể : Gan.
2. Bản mệnh là con người, con người Nhâm-Tý thuộc mộc. Được Can Nhâm thuộc thủy, Chi Tý thuộc thủy, sinh ra bản mệnh. Tuổi Nhâm-Tý cung Dần, Mão thuộc mộc, gặp cả Tuần, lẫn Triệt, nên dù Can, Chi sinh ra bản mệnh cũng không tránh được tai ương, bệnh tật.
3. Về phương diện y-học thì can và đởm là hai tạng phủ tương thông biểu lý. Can thuộc Âm thu ộc tạng, Đởm thuộc dương thuộc phủ. Can thuộc lý thuộc bên trong, đởm thuộc biểu thuộc bên ngoài. Khi bệnh cập can thì ảnh hưởng đởm và ngược lại.
4. Về phương diện sinh lý thì can chủ về sơ tiết :
Sơ tức là thông, tiết tức là tiến tới.
Như vậy có hai loại bệnh, một là bệnh thần chí và hai là bệnh về đường tiêu hoá :
4.1. Về vấn đề tình chí.
– Sự hoạt động của tình chí, do thần biểu hiện ra ngoài. Vậy thần tức là tinh khí hiện ra ngoài của cơ thể, quan sát thần thì biết tinh khí thịnh, suy. Thần của con người theo y học Á-châu là do tâm can. Các hoạt động tinh thần thuộc vào sự sơ tiết thông đều của can.
– Khi công năng của can chính thường, thì khí cơ thông sướng, khí huyết sung doanh, tâm thần thư thái.
– Nếu công năng của can bất thường khiến tình chí biến hoá, sinh ra nóng nảy, dễ giận, dễ hờn, dễ gắt gỏng.
– Khi can khí bị kết lại, thì :
Mạn sườn căng trướng.
Uất ức, hay lo nghĩ, nặng thì lúc nào cũng muốn khóc, làm việc gì cũng muốn mau.
Đầu nhức, căng trướng.
Lồng ngực đầy, chóng mặt.
– Ngược lại khi tinh thần bị kích thích, giận hờn, uất ức chồng chất, dồn ép quá độ, nếu không tiêu giải được sẽ xuất hiện tình trạng can khí bị kết, khí cơ không điều sướng. Vậy bệnh can đưa tới bệnh thần chí và ngược lại bệnh thần chí cũng đưa tới bệnh can.
4.2. Về phương diện tiêu hóa.
Công năng của can là hiệp điều với tỳ vị để tiêu hoá thực vật. Khi công năng của can bất thường, kéo theo tỳ vị bất thường. Việc tiêu hoá thực vật hổn loạn. Ẩm, th ực là gốc hậu thiên khí. Ăn uống thực vật béo bổ đến đâu chăng nữa, mà tiêu hóa bị hỗn loạn thì hậu thiên khí cũng bị hỗn loạn. Vậy khi công năng của can hỗn loạn, đưa đến các chứng :
– Huyết ô.
– Đại tiện chảy, hoặc kết bón, v.v...
4.3. Can chủ tàng huyết
Công năng của can là tàng chứa huyết dịch, điều hòa lượng huyết. Khi can có bệnh, công năng tàng huyết thất thường, ảnh hưởng đến hoạt động nhân thể, đồng thời sinh bệnh huyết dịch. Can huyết bất túc, thì hai mắt nhìn vật mơ hồ, các móng chân tay bất lợi, phụ nữ kinh nguyệt ít, nặng thì bế kinh, khi can khí thượng nghịch, đưa đến thổ huyết, xuất huyết, phụ nữ tử cung xuất huyết, hoặc lồng ngực căng đau, thống kinh, bế kinh hay tuyệt kinh.

 Học Phong Thủy


5. Can chủ gân. Hoa của gan là móng chân tay : Gân, móng, sụn là do can huyết nuôi dưỡng. Công năng của gan chính thường, gân-móng thọ lãnh huyết dịch, cơ thể khang kiện. Khi gan huyết bất túc, huyết không nuôi dưỡng được gân-móng, đưa đến chân tay run rẫy, tê dại, móng chân tay bất lợi, hàm răng mỏi mệt hoặc cắn chặt không mở ra được.
6. Gan khai cùng ở mắt.
Quan của gan là mắt. Khi gan có bệnh, thì ảnh hưởng tới mắt.
7. Những người mạng mộc, bản chất bệnh thường do gốc ở gan. Bệnh gan sinh ra thường thấy :
7.1. Gan khí kết đóng
– Tinh thần thất thường, dễ nổi giận.
– Lồng ngực căng.
– Thích thở dài.
– Bụng dưới căng đau.
– Đau bụng kinh.
– Kinh nguyệt không đều.
– Hoặc trong cổ hầu như mắc nghẹn, nuốt không xuông.
7.2. Gan hỏa bốc lên
– Nhức đầu.
– Chóng mặt.
– Tai kêu.
– Mặt đỏ, mắt đỏ.
– Hầu khô đau.
– Nóng nảy, dễ nổi giận.
– Mất ngủ, hoặc ác mộng.
– Thổ huyết, tiện huyết.
– Các chứng huyết áp cao (Hypertention artérielle) 95% do can hỏa.
7.3. Gan huyết bất túc
– Sắc mặt trắng bệch.
– Chóng mặt, mộng nhiều.
– Tai kêu, mắt khô.
– Nhìn vật mơ hồ, hoặc chân tay tê dại, hoặc gân mạch co rút.
– Móng chân tay không tươi.
– Phụ nữ kinh ít, hoặc tuyệt kinh.
7.4. Gan dương thượng thăng
– Chóng mặt, tai kêu.
– Đầu nhức căng trướng.
– Mặt đỏ, mắt đỏ.
– Dễ nổi giận, mất ngủ mộng nhiều, mất trí nhớ hay sợ sệt, đau lưng.
7.5 Gan phong nội động
– Chóng mặt ngã ra.
– Đầu nhức như búa bổ.
– Chân tay co giật.
– Ngôn ngữ bất lợi.
– Đôi khi hôn mê, lưỡi cứng, miệng méo, mắt trợn ngược bán thân bất toại.
8. Đại loại những người mạng mộc thường sinh các chứng trạng trên, đó là những chứng bệnh căn bản. Còn những bệnh do vi trùng, là bệnh thời khí, phải căn cứ vào vận hạn mới biết.

 Học Phong Thủy


TUỔI NHÂM TÝ PHẦN 6


TUỔI NHÂM TÝ
Mệnh Tang Đố Mộc (Gỗ cây dâu)
Sinh từ :
19 tháng 3 năm 1912 đến 8 tháng 3 năm 1913
15 tháng 2 năm 1972 đến 30 tháng 4 năm 1973

 Học Phong Thủy


VII. XE CỘ, Y PHỤC
1. Tuổi Nhâm-Tý Thiên-mã đóng tại Dần.
Thiên-mã là năng lực cuộc đời, hóa hình là chiếc xe. Thiên-mã ngộ cả Tuần, lẫn Triệt thì Nhâm-Tý không may mắn về xe cộ. Trong cuộc đời, họ ít có dịp mua xe, hay không thích mua xe, dù họ giàu có. Dù họ mua xe, xe hay bị hỏng, bị tai nạn. Họ lái xe cẩn thận đến đâu, trong đời cũng bị tai nạn đến phải vứt xe đi một hai lần bởi Mã ngộ Hao, Hỏa, Tang và ngộ cả Tuần lẫn Triệt.
1.1. Nhất là những năm Thân, Tý, Thìn, lưu mã gặp Mã cố định ở Dần, thì gặp tai nạn xe cộ là điều đương nhiên.
1.2. Nhâm-Tý mạng mộc thuộc màu xanh, vậy đi xe màu gì để đỡ tai nạn ? Để làm ăn phát đạt ?
Sau đây xin dẫn chứng một truyện :
Có ông giám đốc văn phòng bảo hiểm ở Pháp. Nhân dịp cuối thập niên 70, ông hỏi máy điện toán xem những người sinh năm nào bị nhiều tai nạn nhất ? Thì ông tìm thấy trong 10 năm, có 12 khách hàng sinh năm 1912, năm nào cũng bị tai nạn từ 2 đến 7.
Tò mò ông cứu xét lại hồ sơ, thấy rằng hầu hết những tai nạn đó không do thân chủ ông gây ra mà do phía đối nghịch. Ông cho mời cả 12 khách hàng xấu số lại hỏi thăm từng chi tiết tai nạn. Sau đó ông nghiệm ra rằng họ bị tai nạn trong những trường hợp lãng xẹt.
Người nào cũng công nhận trong đời họ luôn luôn bị tai nạn xe cộ, dù đã cẩn thận. Ông đem chuyện này hỏi tôi.
Tôi trình bày cho ông biết về số Tử-vi, họ tuổi Nhâm-Tý, và những năm có trên hai tai nạn đều thuộc năm Thân, Tý, Thìn. Năm nay (1980) là năm Canh-Thân dù lái xe cẩn thận đến đâu họ cũng bị tai nạn.
Hai trong 12 ông không tin. Một để xe ở pac-king không lái, một để ở ga-ra. Cuối năm, ông giám đốc hảng bảo hiểm công nhận khoa Tử-vi đúng. Vì ông khách để xe ở parking không hiểu bị kẻ vô danh nào đụng móp hết phần đầu, không tìm ra thủ phạm. Còn ông để xe ở ga-ra, thì đứa cháu của ông nghịch ngợm, mở công tắc rồ máy, xe húc đổ tường nhà, mui xe bẹp.
2. Tuổi Nhâm-Tý nên đi xe màu gì để làm ăn thịnh vượng, tránh khỏi tai nạn.
2.1. Màu vàng. Thuộc thổ, Nhâm-Tý mạng mộc, mộc khắc thổ, tức là bổn mạng khắc chiếc xe, xe thường bị tai nạn do chính bản thân gây ra. Dù giữ gìn đến đâu chăng nữa cũng vẫn bị tai nạn, hoặc ít ra xe hay hỏng máy, trầy sơn.
2.2. Màu trắng. Thuộc kim, kim khắc mộc. Nhâm-Tý thuộc mộc, bổn mạng bị chiếc xe khắc. Mọi việc làm ăn bế tắc, bổn mạng có thể bị thương, chết vì tai nạn xe cộ.
2.3. Màu đen. Thuộc thủy, thủy sinh mộc, Nhâm-Tý thuộc mạng mộc, bổn mạng được chiếc xe sinh ra. Xe là năng lực cuộc đời, Nhâm-Tý nên đi xe màu đen sức khỏe tăng tiến, làm ăn thịnh vượng, xe cộ ít tai nạn.
2..4. Màu xanh. Thuộc mộc. Nhâm-Tý mạng mộc, tương hợp với màu của xe, ít tai nạn, sức khỏe bảo toàn, làm ăn hanh thông.
2.5. Màu đỏ : Thuộc hỏa. Nhâm-Tý mạng mộc, mộc sinh hỏa, bổn mạng sinh ra chiếc xe, bị chiếc xe hút hết năng lực, khả năng bị khô kiệt, dễ tai nạn, nguy hiểm cho sức khỏe.
5. Mầu sắc đồ dùng, quần áo.
Cũng như màu xe.

 Học Phong Thủy


VIII. NHÀ TUỔI NHÂM TÝ
1. Tý thuộc phương Bắc, Nhâm cũng thuộc phương Bắc. Mệnh thuộc mộc thuộc phương Đông. Vậy ở nhà hướng nào thuận lợi cho bản thân, cho vợ con ?
2. Thứ nhất nhà hướng Tây. Thuộc kim, kim khắc mộc. Nhâm-Tý mạng mộc bị hướng nhà khắc, nguy hại cho sức khỏe bản thân, vợ con. Làm ăn bế tắc.
3. Thứ nhì nhà hướng Bắc. Thuộc thủy, thủy sinh mộc. Nhâm-Tý mạng thủy được hướng nhà sinh ra bổn mạng, nhất là Nhâm thuộc thủy, Tý cũng thuộc thủy, như vậy Nhâm-Tý ở nhà hướng Bắc tốt cả cho công ăn việc làm, cho sức khỏe bổn mạng và vợ con.
4. Thứ ba nhà hướng Đông. Thuộc mộc, Nhâm-Tý mạng mộc, nhà và bổn mệnh cùng một hành lợi công danh, sức khỏe của bổn mạng, nhưng trong nhà hay lục đục vặt.
5. Thứ tư hướng Nam. Thuộc hỏa, mộc sinh hỏa. Nhâm-Tý mạng mộc, sinh ra bổn mạng ngôi nhà. Tối độc, năng lực bị mất, bệnh hoạn liên miên.

 Học Phong Thủy