Thứ Hai, 11 tháng 3, 2013

TUỔI BÍNH TÝ PHẦN 10


TUỔI BÍNH TÝ
Mệnh Giản Hạ Thủy (Nước dưới suối)
Sinh từ 4 tháng 1 năm 1936 đến 10 tháng 2 năm 1937

Học Phong Thủy


XI. KẾT LUẬN
1. Bính-Tý sinh ra dể hơn đời. Có nghĩa là ở hoàn cảnh nào chăng nữa, họ cũng vượt lên trên, vẫn sáng chói. Tuổi Bính-Tý thông-minh, lanh lợi, cần-mẫn, cương-quyết. Ở trong nhà họ là con hiếu-thảo. Ở học-đường họ là học trò thông-minh, ngoan-ngoãn. Đối với bạn bè, họ là người trợ-giúp đắc-lực. Đối với người dưới họ là ông phúc.
2. Trừ trường hợp tuổi Bính-Tý bị Kiếp, Không thủ mệnh. Hoặc cả Kiếp, Không đồng thủ mệnh, dù có phúc tinh là Thiên-Đồng thủ tọa trong, họ cũng là người khó chơi. Họ xử-dụng tài của họ, để lợi-dụng, để lừa đảo thiên hạ. Cổ nhân tượng trưng Bính-Tý có Kiếp, Không thủ mệnh là con gà trống, chỉ biết gáy, gáy lớn tiếng để loè đời, mà không có gì tốt cả.
3. Dưới đây chúng tôi xin dẫn một lá số loại tốt (Sinh ngày 15 tháng 10 năm Bính-Tý, giờ Tý). Thiên-đồng là đại phúc tinh thủ mệnh ở Hợi, vì sinh giờ Tý, nên Kiếp, Không thủ mệnh.
Số song lộc, Lộc-tồn cư thiên-di, Hóa-lộc thủ mệnh. Cung quan Hóa-quyền ngộ Cự, Cơ.
Tử-vi kinh nói:
Quyền hội Cự, Vũ anh hùng.
Nhưng chỉ vì bản chất cung mệnh có Kiếp, Không là hai sao lưu manh, hóa cho nên sự nghiệp toàn nhờ xảo trá mà thành nghiệp, rồi tan thành tro.
Sơ lược cuộc đời. Tên thực là Hoàng-đức-Ph. ( còn có tên là Phan-H.) Thủa nhỏ theo cha lưu lạc sang Trung-hoa, Pháp, sau ở với chị. Năm 1954 thi Tú-tài I bị rớt. Tiếp theo thi liên tiếp 6 năm 12 khóa cũng rớt. Hiếp chị ruột mang thai, đẻ con, trốn vào rừng theo đạo-tặc. Được đạo-tặc huấn-luyện, chửi cha, phản thầy. Năm 1962 bị giam ở khám lớn Nam-vang vì tội hoạt động gián-điệp và buôn lậu thuốc phiện cho đạo-tặc.
Năm 1965, đạo-tặc vận-động được thả ra đưa sang Pháp. Đạo-tặc giúp cho vừa làm vừa học.
Năm 1972 trình luận-án lấy bằng tiến-sĩ kinh-tế (tiến-sĩ tự-do, vì không có cử-nhân). Sỡ dĩ được học là do đạo-tặc gửi chính-phủ Pháp.
Năm 1973 lập hội võ. Dù không biết võ, nhờ hơi võ, mà trở thành giàu.
Năm 1980 bị khai-trừ khỏi hội võ. Mất bằng tiến-sĩ, mất luôn chức vụ về võ.
Vẫn tiếp tục hoạt động cho đạo-tặc ở Canada đội lốt võ đạo. Năm 1990 bị môn phái khai trừ về tội gian manh.
4. Trên đây chúng tôi chỉ đơn cử một trong hàng trăm hàng nghìn lá số của tuổi Bính-Tý, có sát tinh thủ mệnh, đi vào đường tà, nhưng vẫn làm lãnh-chúa, vẫn sáng chói hơn đời.
Tử-vi-kinh gọi Bính-Tý là:
Bính-Tý chi nhân tài nhiếp quần hào, nhược ngộ Kiếp, Không, đạo-tặc nhi khả thành nghiệp.
Nghĩa là người tuổi Bính-Tý tài của họ áp đảo các anh hào, nếu bị Kiếp, Không thủ mệnh thì đi làm đạo-tặc mà thành-công.
5. Đại cương về tuổi Bính-Tý, chỉ có thế. Tuy nhiên còn phải tùy thuộc vào số mới quyết đoán được. Những điều chúng tôi nói là tốt thì có nghĩa là gặp cát tinh tọa thủ sẽ tốt hơn, gặp sát tinh tọa thủ thì giảm tốt.
Ngược lại khi nói rằng xấu, gặp cát tinh tọa thủ giảm xấu, gặp hung tinh thì họa đến trùng trùng.

Học Phong Thủy


 XII. KINH NGHIỆM VỀ TUỔI BÍNH TÝ
1. Nam mệnh Bính Tý, sinh ngày 18 tháng 6, giờ Tỵ. Đây là một kỳ nhân, dị sĩ. Chúng tôi xin ghi chi tiết để độc giả rút kinh nghiệm. Người Pháp.
– Thủa nhỏ bị ho gà.
– 3 tuổi bị thối tai phải.
– 5 tuổi bị chó cắn chân phải.
– 7 tuổi bị sốt rét ngã nước.
– 9 tuổi bị kiết lỵ (Ất-Dậu 1945)
– Bị gián đoạn học hành, phải làm việc giúp gia đình. Có thời gian phải đi ở. 14 tuổi đi học lại (Canh-Dần 1950)
– 18 tuổi ( Giáp-Ngọ 1954) phải xa gia dình. Đi làm việc nuôi gia đình.
– 21 tuổi (Đinh-Dậu 1957) tự học đậu BEPC.
– 22 tuổi (Mậu-Tuất 1958) tự học đậu tú tài I
– 23 tuổi (Kỷ-Hợi 1959) tự học đậu tú tài II. Làm giáo sư trung học.
– 24 tuổi (Canh-Tý 1960) nhập đại học quân y. Học cả y lẫn văn chương.
– 27 tuổi (Qúy-Mão 1963) đậu cử nhân văn chương. Cưới vợ tuổi Canh Thìn (1940).
– 30 tuổi (Bính-Ngọ 1966) ra trường. Phải đi trận. Bị thương.
– 31 tuổi (Đinh-Mùi 1967) trình luận án bác sĩ. Được phần thưởng Hàn-lâm viện y khoa. Được cử làm chỉ huy trưởng quân y viện. Xuất bản tác phẩm văn chương. Thăng cấp.
– 32 tuổi (Mậu-Thân 1968) bị thương.
– 33 tuổi (Kỷ-Dậu 1969) được cử làm giáo sư y khoa.
– 34 tuổi (Canh-Tuất 1970) được thăng cấp.
– 35 tuổi (Tân-Hợi 1971) ứng cử hạ viện, thất cử. Mất chức chỉ huy trưởng quân y viện. Thăng cấp.
– 36 tuổi (Nhâm-Tý 1972) đại phát tài. Đậu chuyên khoa y khoa.
– 37 tuổi (Quý-Sửu 1973) bị vu cáo. Bị tù. Tòa xử trắng án.
– 38 tuổi (Giáp-Dần 1974) nổi tiếng về... văn chương. Bị đuổi khỏi quân đội với cấp bậc đại tá.
– 39 tuổi (Ất-Mão 1975) bố chết. Vợ bỏ. Thi đậu Thạc-sĩ y khoa. Duyên tình mới.
– 40 tuổi (Bính-Thìn 1976) bỏ Pháp sang Hoa-Kỳ lập nghiệp. Được trọng dụng. Duyên tình đứt. Viết báo Hoa-kỳ nổi tiếng.
– 41 tuổi (Đinh-Tỵ 1977) bị vu cáo, mất chức giáo sư y khoa. Duyên tình mới, rồi bị cắt đứt.
– 42 tuổi (Mậu-Ngọ 1978) thất nghiệp. Duyên tình mới, bị đứt.
– 43 tuổi (Kỷ-Mùi 1979) được giải thưởng y khoa. Duyên tình mới. Cưới vợ.
– 44 tuổi (Canh-Thân 1980) bị thất nghiệp. Bị phản.
– 45 tuổi (Tân-Dậu 1981) đỗ... quốc tịch Hoa-Kỳ. Làm giám đốc y viện.
– 46-51 tuổi (Nhâm-Tuất 1982, Quý-Hợi 1983, Giáp-Tý 1984, Ất-Sửu 1985, Bính-Dần 1986, Đinh-Mão 1987) đại phát tài. Năm 1982 vợ bỏ.
– Đã xuất bản 34 tác phẩm y khoa, văn chương Anh, Pháp ngữ.
2. Nữ mệnh, Bính-Tý, người Việt-Nam. Sinh ngày 20 tháng 3, giờ Thìn.
– 18 tuổi (Giáp-Ngọ 1954) đậu tú tài. Du học Pháp.
– 19 tuổi (Ất-Mùi 1955) thi PCB trượt. Yêu, bị tan vỡ.
– 20 tuổi (Bính-Thân 1956) đậu PCP.
– 25 tuổi (Tân-Sửu 1961) đậu nội trú. Lấy chồng.
– 26 tuổi (Nhâm-Dần 1962) trình luận án y khoa, đậu hạng tối danh dự.
– 27 tuổi (Qúy-Mão 1963) ly dị.
– 29 tuổi (Ất-Tỵ 1965) được làm giáo sư phụ tá. Tái giá.
– Đặc tính: nhu thuận, xinh đẹp. Viết văn Pháp rất hay. Học gì cũng thành. Cho đến nay, ly dị lần thứ ba, trước sau 12 mối tình.
3. Trong năm mươi số nam Bính-Tý, người châu Âu, thuộc đủ mọi thành phần, thì:
– Cả năm mươi đều ly dị một hay hai lần.
– Cả năm mươi đều nổi danh trong lãnh vực của họ.
4. Trong năm mươi nữ Bính-Tý, thì 41 ly dị. Chỉ có hai người trọn vẹn.


CHÚ GIẢI
(1) Hoàng-tộc Tống-triều, Triệu-thị minh thuyết Tử-vi kinh, chương Can-Chi luận, Trung-hoa thư cục xuất bản 1921, trang 64.
(2) Trần-Đoàn, Tử-vi chính nghĩa, chương Phú luận, cổ bản.
(3) Bắc-kinh, Trung-y học viện, Trung-y học cơ sở. Thượng-hải khoa học, kỹ thuật xuất bản xã 1978. Trang 14.
(4) Sách đã dẫn (1), trang 122.
(5) Sách đã dẫn (1), trang 123.
(6) Sách đã dẫn (1), trang 124.
(7) Sách đã dẫn (1), trang 125.
(8) Sách đã dẫn (1), trang 126

Học Phong Thủy


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét