TUỔI BÍNH TÝ
Mệnh Giản Hạ Thủy (Nước dưới suối)
Sinh từ 4 tháng 1 năm 1936 đến 10 tháng 2 năm 1937
Học Phong Thủy
1. Tuổi Bính-Tý mạng thủy, thủy trong học thuyết
Âm-Dương, Ngũ-hành liên hợp với:
– Ngũ khí: Hàn (lạnh).
– Ngũ hoá: Tàng (ẩn).
– Tạng phủ: Thận, bàng-quang. Liên hợp với túc
Thiếu-âm thận kinh và túc Thái-dương bàng-quang kinh.
– Ngũ quan: Tai.
– Hình thể: Xương.
2. Bản mệnh là con người, con người Bính-Tý mạng thủy,
còn được thêm một lần thủy nữa là Chi Tý, có đầy đủ tính-chất như bản mệnh,
khiến tất cả những tính-chất trên đây thêm mạnh. Về phương-diện y-học, thì thận
và bàng-quang là hai tạng-phủ tương-thông biểu-lý. Thận chủ lý, chủ bên trong,
bàng-quang chủ biểu chủ bên ngoài. Khi bệnh cập thận thì ảnh-hưởng sang
bàng-quang và ngược lại.
Thận chủ:
– Thủy. Về phương-diện sinh-lý, thận chủ điều tiết
lượng nước trong người. Khi thận khí-hóa thất điệu, sinh ra lương thủy đình
lưu, thành giả mập hay phù-thủng. Tóm lại lượng nước ít, nhiều đều do thận.
– Khí. Phế chủ hô (thở ra) khí, thận chủ nạp khí.
– Thận chủ cốt, sinh tinh. Hoa của thận là tóc: Thận
chủ tàng tinh, tinh sinh tủy, tủy ăn trong xương, xương được tủy nuôi dưỡng, do
vậy nói thận chủ cốt. Óc là tủy, vậy thận chủ chỉ nhớ. Răng là phần dư của cốt,
nên mới nói thận liên hệ tới răng. Hoa của thận là tóc, tóc rụng, tòc gãy, tóc
sớm bạc là do thận.
– Thận tàng tinh: Thận chủ sinh-dục, sinh-tinh-khí,
nên liên quan tới đời sống lứa đôi, đến sinh-sản, đến bệnh phụ-nữ.(3)
3. Tuổi Bính-Tý mệnh thuộc thủy. Mệnh là bản chất
cơ-thể.
Chi là địa-bàn chủ thay đổi. Nhưng chi Tý cũng có cả
tính chất sinh-lý, bệnh-lý, bệnh-biến như bản mệnh. Can Bính thuộc hỏa. Can là
hoàn-cảnh, thời-khí ở ngoài tác-dụng vào cơ-thể. Hỏa của can bị bản mệnh và chi
Tý thuộc thủy khắc. Vậy Bính-Tý có hai nguyên-do sinh bện, một là nội thương,
hai là ngoại tà nhập.
3.1. Một là nội thương . Thận vừa chủ Dương lẫn Âm.
3.1.1. Thận Dương hư suy, có các chứng trạng.
– Sắc mặt trắng bệch,
–
Thân thể lạnh, chân tay lạnh.
–
Tinh thần ủy-mị.
–
Đau ngang lưng, nam thì bất lực, nữ thì tử-cung lạnh không thụ thai.
–
Tiểu tiện vặt.
–
Nam thì xuất-tinh sớm (bệnh gà), nữ huyết trắng (leucorrhée), dễ xẩy thai.
–
Tóc rụng.
–
Răng lung lay.
–
Tinh nhược (asthénospergie) (4)
3.1.2. Thận âm hư suy:
– Chóng mặt tai kêu.
–
Trí nhớ giảm thoái.
–
Mất ngủ.
–
Đầu gối, lưng đau.
–
Người gầy.
–
Hầu khô.
–
Sau giờ Ngọ (11-13 giờ),người như bị sốt, mồ hôi xuất.
–
Nam di-tinh.
–
Nữ bế-kinh (aménorrhée) (5)
3.1.3. Khi Thận-âm hư suy ảnh hưởng đến tâm, sinh:
– Huyết áp cao (Hypertension artériellle).
–
Tim đập mau.
–
Chóng mặt.
–
Bệnh nặng sinh não xuất huyết, đưa đến bán thân bất toại.(6)
3.2. Hai là ngoại thương
Thận-âm hư, thì dương tà là phong, hỏa nhập cơ thể.
Phong tương-đương với với y-học Tây-phương là vi-trùng, siêu-vi-trùng. Phong
hợp với nhiệt sinh cảm, cúm (Siêu-vi-trùng và các loại vi-trùng) mũi nghẹt,
sốt, đau cổ họng, ho.
3.2.1. Thận-dương hư, ảnh hưởng đến tâm dương hư:
– Tim đập chậm.
–
Áp huyết thấp.
–
Tóc rụng.
–
Tai kêu, tai điếc.
–
Răng lung lay.(7)
3.2.2. Khi Thận-dương hư thì hàn nhập cơ-thể, sinh ra
– Cảm cúm (Siêu-vi-trùng và vi-trùng).
–
Nghẹt mũi.
–
Sưng cổ hầu.
–
Sốt-rét.
Nếu hàn nhập cùng với phong thì tai vạ không nhỏ. Sinh
ra phong thấp (Rhumatisme) đau các khớp xương, đi đứng nặng nề. Hàn sinh ho,
lâu ngày thành suyễn kinh-niên.
4. Bản chất Bính-Tý là bệnh thận, nhưng còn Can Bính
thuộc hỏa, thuộc tâm. Bính ảnh-hưởng thời-khí ở ngoài vào tức là hỏa. Thủy khắc
hỏa, nhưng khi hỏa mạnh quá có hiện-tượng tương-vũ. Ngũ-hành sinh khắc nói đến
tương sinh tương khắc, còn tương vũ? Thông thường thủy khắc hỏa. Ngược lại nếu
hỏa mạnh quá uy-hiếp thủy gọi là tương-vũ. Khi thời-khí, khiến hỏa mạnh tác
dụng vào bản thân thành tương vũ, lấn át thân, khiến thận thủy khô liệt. Hỏa
nhập tâm, thành tâm hỏa. Hiện tượng như sau: Tâm-phiền, mất ngủ, mặt đỏ, miệng
khát, lưỡi có mụn, nặng thì hóa điên, tiểu tiện ra máu.
4.1. Nam mệnh Bính-Tý, sao Bệnh-phù đóng ở Sửu, thuộc
thổ, thổ thuộc Tỳ-vị. Vậy khi thận-dương hư sẽ đưa đến tỳ-dương hư:
– Ăn vào đầy ứ.
–
Mửa ra nước trắng.
–
Chân tay lạnh.
–
Đại tiện lỏng.
–
Nữ huyết trắng nhiều (Leucorrhée).
–
Đau vùng bao-tử, người như mập lên, phù-thủng.
–
Bất-lực.
–
Chóng mặt.(8)
4.2. Nữ mệnh sao Bệnh-phù đóng tại Dậu, thuộc kim, ngộ
Tuần, không đáng sợ. Nếu có thì bệnh đường hô hấp. tai, mũi, họng và phổi.
5. Đại lược bệnh tật tuổi Bính-Tý thì thế, còn tùy số
nữa. Như trong Tử-vi của họ cung Tật-ách ngộ Tuần, Triệt thì họ có nhiều cơ
duyên chống bệnh hoặc khi bệnh, họ gặp thầy, gặp thuốc ngay. Cung Tật-ách cũng
còn tùy bản mạng. Nếu bản mạng họ được những sao phúc tinh tọa thủ như Đồng,
Lương, Xương, Khúc, Khoa, họ ít bệnh. Ngược lại mệnh họ ngộ Tạng, Hổ, Riêu, Ki,
Hình, Kiếp, Không, Bệnh-phù, cái lý ngũ hành về bệnh tật sẽ tăng lên.
6. Phần trình bày trên đây là căn-bản con người bị
bệnh. Nhưng không phải cả đời họ bị bệnh, mà tùy theo vận-hạn. Trong Tử-vi kinh
nói rõ:
"Bản chất người có bệnh, muốn biết bao giờ bị
bệnh thì xem vận-hạn".
Bản chất có bệnh gì, thì đến vận-hạn xuất hiện bệnh
ấy. Theo nguyên lý trợ cách của khoa Tử-vi, thì tùy bản thân, vận-hạn mắc bệnh,
nếu gặp thầy thuốc có sao thủ mệnh tốt thì giải được ách.
7. Kết lại tuổi Bính-Tý cần chú ý giữ gìn đừng để bị
bệnh thận, bệnh tỳ, bệnh tim, đôi khi cả phong-thấp nữa.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét