TUỔI GIÁP TÝ
Mệnh Hải Trung Kim (Kim ở trong biển).
Sinh từ:
5 tháng 2 năm 1924 đến 24 tháng 1 năm 1925.
2 tháng 2 năm 1984 đến 19 tháng 1 năm 1985.
5 tháng 2 năm 1924 đến 24 tháng 1 năm 1925.
2 tháng 2 năm 1984 đến 19 tháng 1 năm 1985.
Học Phong Thủy
X. Vận hạn
tuổi Giáp-Tý
1.
Vận hạn theo tháng
1.1.
Tháng 1, 2 thuộc mộc. Mệnh Giáp Tý thuộc kim, khắc mộc, thời gian lý-tưởng để
tranh đấu. Thương-gia Giáp Tý nên khởi sự vào thời gian này. Tháng 1 gặp
Lộc-tồn, Thiên-mã là tháng tốt nhất về tiền tài cũng như về danh-vọng, coi
chừng đau yếu vì có Tang-môn. Tháng hai thêm Hồng-loan, nam ngộ Kình, nữ ngộ Đà
nếu tranh dành thì thắng lợi. Có người khác phái giúp đỡ.
1.2.
Tháng 3, 5, 9, 12 thuộc thổ. Thổ sinh kim là bản mệnh. Thời gian thuận lợi như
nước thủy triều cuồn cuộn đổ. Tháng 3 có Long-trì, được quí-nhân giúp đỡ. Nam
mệnh được 3 con rồng: Thanh-long, Long-trì và cung Thìn. Mọi sự toại ý, không
gì mà không thành.
1.3.
Tháng 4, 5 thuộc hỏa, hỏa khắc kim là bổn mệnh. Phải cẩn thận, nhất là tháng 4
dễ gặp tai nạn, vì ngộ Hao, cẩn thận xe cộ.
1.4.
Tháng 7, 8 thuộc kim, hợp với bổn mệnh, tốt đẹp. Ngặt ngộ Triệt thành ra chỉ
bình hòa. Đào-Hỉ ngộ Triệt, có sự buồn lòng về tình duyên.
1.5.
Tháng 10, 11 thuộc thủy. Bản mệnh thuộc kim sinh thủy, thời cơ tốt, những quyết
định sẽ hợp thời, thành-công.
Ở
đây chỉ đưa ra những nét đại cương, cần xét đến tiểu-hạn, đại-hạn mới quyết định
được.
2.
Vận hạn theo đại, tiểu hạn.
2.1.
Đại hạn đến cung Mão, hoặc tiểu hạn nam năm Tý, nữ mạng năm Mùi qua cung Mão
thuộc mộc. Bổn mạng thuộc kim khắc mộc, thì công việc làm ăn có tính chất tranh
dành, sẽ đạt thắng lợi. Nội cung còn có Kình-dương (Nam) Đà-la (Nữ) nếu tranh
thương dưới hình thức nào cũng thắng. Hồng-loan ngộ Kình, Đà sẽ được người khác
phái trợ giúp. Cẩn thận tránh bị cảm cúm, nhức đầu, sổ mũi. Người sinh tháng 1,
7, hay giờ Thìn, Thân gia đạo bất an, duyên tình tan vỡ.
2.2.
Đại hạn đến cung Tỵ. Hoặc nam mạng tiểu hạn năm Mùi. Nữ mạng tiểu hạn năm Tỵ
đều qua cung Tỵ. Cung Tỵ thuộc hỏa, bản mệnh thuộc kim bị khắc. Nội cung ngộ
Kiếp-sát, Phá-toái, Đại (Tiểu) Hao, phải cẩn thận. Chớ nên mưu đồ việc lớn,
nhất là đừng bỏ vốn làm ăn chung, dễ bị tán tài, bị lừa đảo. Sức khỏe đáng
ngại. Người sinh tháng 3, 9 kiện cáo, mổ xẻ, hao tán. Ngược lại sinh giờ Tý,
Ngọ hoạnh phát tài danh.
2.3.
Đại hạn tới cung Dậu, hoặc nam mạng tiểu hạn năm Hợi, nữ mạng tiểu hạn năm Sửu
đều qua cung Dậu. Cung Dậu thuộc kim, bổn mạng cũng thuộc kim, có sự tương hợp.
Tiếc rằng cung Dậu ngộ Đào, Hỉ, gặp Triệt, mọi sự bế tắc, phải cẩn thận, duyên
tình, gia đạo có những điều làm buồn phiền. Người sinh tháng 1, 7 hoặc giờ Dần,
Tuất kiện cáo khó tránh. Gia đạo bất toàn, duyên tình tan vỡ.
2.4.
Đại hạn tới cung Hợi thuộc thủy. Bổn mạng thuộc kim sinh ra cung nhập hạn, việc
làm, tranh thương tốt đẹp. Nội cung có Hao-tinh, nhưng đã có Tuần ngăn cản,
không đáng lo ngại. Thời gian này bỏ vốn buôn bán thuận lợi. Nếu mua nhà thì
tốt. Người sinh tháng 3, 9 kiện cáo, mổ xẻ đến sạt nghiệp. Ngược lại sinh giờ
Tý, Ngọ, hoạnh phát tài danh.
2.5.
Đại hạn tới cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, nam nữ tiểu hạn năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu
cũng qua những cung trên. Bổn mệnh thuộc kim, cung nhập hạn thuộc thổ. Thổ sinh
kim: Thời gian thuận lợi, làm việc được quí nhân giúp đỡ, mọi quyết định hanh
thông. Nhất là hạn qua cung Thìn ngộ Long-trì, hạn qua cung Sửu, Mùi ngộ Khôi,
Việt, những người làm chính-trị, quân-sự, chắc chắn thành công. Trừ trường hợp
sinh giờ Dần, Tuất, hoặc Thân, Thìn ngộ Kiếp, Không tai vạ không nhỏ. Đại hạn
tới cung Thìn, Tuất, mà sinh tháng 2, 8 càng đáng lo ngại vì đau đớn xác thịt
hay hình sự. Đại hạn tới cung Sửu, Mùi mà sinh tháng 5, 11 bệnh tật, kiện tụng.
2.6.
Đại hạn qua cung Tý, Ngọ, Dần, Thân, tiểu hạn năm Tý, Ngọ Dần, Thân phải rất
cẩn thận:
-
Nếu đại tiểu hạn qua một trong các cung trên, mà bản cung không ngộ Hình, Kị,
Kiếp, Không, chỉ gặp khó khăn mà thôi. Nếu hạn qua cung Tý, Ngọ, sinh tháng 4,
10. Hoặc hạn qua cung Tý, sinh giờ Sửu, Hợi. Hạn qua cung Ngọ sinh giờ Tỵ, Mùi
tai vạ thực không nhỏ. Hạn qua cung Dần, Thân, sinh tháng 6, 12 không đáng lo.
Nhưng hạn qua cung Dần, Thân sinh giờ Mão, Dậu, tai vạ trùng điệp. Nhẹ thì đau
yếu.
-
Nếu đại hạn qua các cung trên, tiểu hạn cũng qua các cung trên, tai vạ không
nhỏ. Ít ra là gia đình ly tán, kiện cáo, mất nghiệp.
-
Nếu đại hạn qua một trong các cung trên. Tiểu hạn cũng qua một trong các cung
trên, thêm vào các sao Kiếp, Không, Hình, Kị thì tai vạ càng nặng thêm lên.
-
Nếu đại, tiểu hạn ở Tý, Ngọ hoặc Dần, Thân tương xung, đại bất hạnh. Nếu thêm
sát tinh thì phải hiểu là chết.
Tuy
nhiên đại hạn qua cung Dần. Hoặc tiểu hạn nam năm Thìn, nữ năm Thân ngộ
Lộc-tồn, Thiên-mã làm ăn tương đối thịnh vượng, giải được tai ách. Thường thì
mua nhà, mua xe. Nhưng hay bị đau yếu do ngộ Tang-môn.
3.
Trên đây là đại cương về vận hạn Giáp Tý. Chúng tôi chỉ đưa ra những nét đại
cương, để cho các vị nghiên cứu Tử-vi lấy đó làm mô-thức hầu giải đoán vận hạn.
Chứ đừng coi những điều ghi trên là tuyệt đối.
Học Phong Thủy
XI. Kết Luận
1.
Giáp Tý là tuổi dễ thành danh trên đường danh vọng so với 4 tuổi Tý khác. Họ có
tính linh-mẫn, hiểu được những biến chuyển xẩy ra xung quanh, lại có khả năng
quyết đoán sáng suốt và điều khiển được tình thế.
2.
Về duyên tình, họ không thiết tha với gia đình, thích chạy theo công danh. Có
nhiều vị hoàng-đế sáng nghiệp tuổi Giáp Tý. Cũng có nhiều minh-quân, bạo chúa
tuổi này.
3.
Tuổi Giáp Tý luôn luôn phải có cố-vấn bên cạnh. Nếu không họ sẽ bị đi vào đường
độc đoán, tàn bạo, rồi xụp đổ hết.
4.
Khi họ đi vào đại-vận xấu, thường vì quá tự đắc mà sụp đổ.
(1)
Trần-Đoàn, Tử-vi chính-nghĩa, chương "Can, Chi luận", cổ bản trang
23.
(2)
Hồ-quí-Ly, nhân vật lịch-sử Việt-Nam. Trước họ Lê sau đổi ra họ Hồ. Có hai
người cô lấy Trần-nghệ-Tông (1370-1371), tính gian xảo, nhờ địa vị hai bà cô,
nắm được quyền bính triều Trần, cướp ngôi nhà Trần năm 1400. Dân chúng không
phục. Năm 1407, tướng nhà Minh là Trương-Phụ sang đánh. Bại trận, bị bắt giải
về kinh đô nhà Minh ở Kim-lăng.
(3) Tống
Triều (960-1279), Triệu-thị minh thuyết Tử-vi kinh, quyển 2, chương "Đại
vận minh nghĩa". Cẩm-chướng thư cục xuất bản năm 1921. Trang 89.
Phú, thọ, quí, vinh,
yểu, bần, ai khổ, Do ư phúc trạch cát hung.
Thương, tang, hình, khổn, hạnh, lạc, hỉ, hoan, Thị tại vận hành cung cát.
Thương, tang, hình, khổn, hạnh, lạc, hỉ, hoan, Thị tại vận hành cung cát.
Nghĩa :
giầu có, sống lâu, quí hiển, vinh hoa, chết non, nghèo khó, đáng thương, khổ
sở, do cung phúc tốt hay xấu. Đau đớn, tang chế, tù tội, cùng cực, gặp may,
sung sướng, vui vẻ, vừa lòng do vận hạn tốt hay xấu. Hai câu trên dùng để giúp
các Tử-vi gia phân biệt các vấn đề hầu giải đoán.
(4)
Trần-nguyên-Hãn là cháu nội của Trần-nguyên-Đán, tể tướng cuối đời Trần.
Trần-quang-Từ thuộc giòng dõi Hưng-nhượng-vương Trần-quốc-Tảng (1252-1313).
Nguyễn-Trãi cháu ngoại Trần-nguyên-Đán. Năm 1418 cả ba rủ nhau vào Lam-sơn theo
Lê-Lợi, mưu đồ chống quân Minh. Khi đi Trần-quang-Từ nói trước: Tôi xem tướng
Lê-Lợi là tướng "Trường cảnh, điểu uế" tức cổ dài, miệng như mỏ chim.
Đó là tướng hay giết những người có công với mình. Chỉ ở với nhau lúc hoạn nạn,
mà không thể ở với nhau lúc sung sướng. Khi Lê-Lợi vây Đông-đô (Hà-nội).
Quang-Từ biết sự nghiệp Lê-Lợi sắp thành. Xin cáo từ đi tu, pháp danh Quang-từ
thiền-sư. Còn Trần-nguyên-Hãn mê muội ở lại. Sau bỏ quan về quê qui ẩn. Lúc sự
nghiệp thành, vua Lê-thái-Tổ nghi nhờ ông, sai 42 vệ-sĩ xá nhân về ấp của ông
bắt ông. Tịch thu tài sản. Vợ, người hầu, con gái chia cho các quan làm đầy tớ.
Con trai thì bắt sung quân. Khi đi giữa đường, ông được Trần-quang-Từ giết vệ
sĩ cứu thoát, tu ở Hoa-yên tự (Xin xem Anh hùng Lam-sơn cùng tác giả).
(5) Sách
đã dẫn (3), chương "Phú giải". Quyển 9 trang 65.
Triệt
đáo kim cung,
Tuần lâm hỏa địa,
Bất kị sát tinh, bại diệu, tai ương sở tác.
Tuần lâm hỏa địa,
Bất kị sát tinh, bại diệu, tai ương sở tác.
Nghĩa:
khi Triệt đóng ở cung kim, Tuần đóng ở cung hỏa, thì không sợ sát tinh, bại
điệu gây tai vạ.
Triệu-thị
chú như sau: Khi Triệt đóng ở Thân-Dậu Tuần đóng ở Ngọ-Mùi, Thìn-Tỵ thì không
sợ sát tinh trong cung như Kiếp, Không, Hình, Kị, Tang, Hổ, Kình, Đà tác hại,
những sao trên chiếu thì cũng vô sự. Trong cung có những sao xấu, không đáng
lo, tỷ như Liêm, Tham tại Tỵ ngộ Tuần. Ngược lại những cát tinh trong cung ngộ
Tuần, Triệt thì vô lực.
(6)
Dương-quí-Phi, sinh ngày 6 tháng 2 năm 724 sau Tây-lịch tức ngày 7 tháng 1 năm
Giáp Tý, giờ Mùi tên là Thái-Trân, người đất Vĩnh-lạc, tự là Ngọc-Trân. Nhan sắc
diễm lệ, giỏi ca, vũ. Làm cơ-thiếp của con thứ 18 Đường-huyền-Tông là
Thọ-Vương. Lệnh tiến cung làm nữ-quan, sau Huyền-Tông chiếm làm quí-phi. Được
sủng ái cùng cực. Cả họ lĩnh ân sủng. Anh là Dương-quốc-Trung giữ quyền
tể-tướng. Ngọc-Trân dan díu với con nuôi là An-lộc-Sơn. Truyện bại lộ,
An-lộc-Sơn làm loạn, vây Trường-An. Đường-huyền-Tông cùng các quan phải chạy
vào Thục (Nay là Tứ-xuyên). Dọc đường quân sĩ không chịu tiến, cho rằng vì
Ngọc-Trân mà sinh loạn. Huyền-Tông lệnh cho Ngọc-Trân thắt cổ chết ở Mã-ngôi.
(7)
Trung Y Học Viện Bắc Kinh, Trung-y-học cơ sở, Viện khoa-học kỹ-thuật Thượng-hải
xuất bản tháng 6-1978. Chương thứ 2 "Tạng-phủ" trang 11.
(8) Ác
hàn là danh từ y học Á-châu. Khi thấy người lạnh, mặc thêm quần áo, đắp chăn
thấy ấm , bệnh thuộc dương hư, cần bổ dương. Trường hợp trùm căn, mặc nhiều
quần áo, cũng vẫn lạnh, bệnh thuộc cảm hàn. Y khoa có tên là ác hàn.
(9)
Trần-đại Sỹ, Pneumologie par la médecine Asiatique, ARMA Paris 1978, chap. 2.
(10)
Sách đã dẫn (7) chương thứ (6) "Biện chứng" trang 115.
(11)
Sách đã dẫn (7) chương thứ (6) "Biện chứng" trang 114.
(12)
Trần-đại-Sỹ, Hématologie par la médecine Asiatique ARMA Paris 1982, chap. 2.
(13)
Trần-đại-Sỹ, Trần-mạnh-Cường, Pathologies d'hypertention artérielle par la
médecine Asiatique, ARMA Paris 1985, chap. 3.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét