Thứ Hai, 11 tháng 3, 2013

TUỔI BÍNH TÝ PHẦN 9



TUỔI BÍNH TÝ
Mệnh Giản Hạ Thủy (Nước dưới suối)
Sinh từ 4 tháng 1 năm 1936 đến 10 tháng 2 năm 1937

Học Phong Thủy


 X. VẬN HẠN TUỔI BÍNH TÝ
1. Vận hạn theo tháng.
– Tháng 1, 2 thuộc mộc, mệnh thủy, chi Tý thuộc thủy sinh mộc, làm ăn thăng tiến. Phải tiêu nhiều vì tháng mộc sinh ra hỏa, bị bản mệnh khắc.
Bính-Tý thường phải chi tiêu nhiều vào tháng 1, 2.
– Tháng 3, 6, 9 12 là tháng Thìn, Mùi, Tuất, Sửu thuộc thổ. Bổn mạng, chi Tý thuộc thủy bị khắc. Làm ăn khó khăn, bệnh tật, đau yếu. Gia đạo bất an. Nhưng duyên tình lại thường đến ở thời kỳ khó khăn. Đây là lẽ đi ngược số mệnh duy nhất của Bính-Tý.
– Tháng 4, 5 thuộc hỏa, bổn mệnh chi Tý thuộc thủy khắc hỏa. Mưu đồ đại sự, quyết định quan trọng, hoặc đấu tranh sẽ thành công. Phải ghi nhớ việc lớn nên khởi sự vào lúc mình có thể chiến thắng.
– Tháng 7, 8 thuộc kim. Kim sinh thủy của bổn mạng và chi Tý, việc nhà, việc ngoài đều tiến triển tốt đẹp.
– Tháng 10, 11 thuộc thủy, hợp với mệnh thủy, chi Tý thuộc thủy, công việc làm ăn kết quả, thời kỳ khởi sự mưu đồ lớn lao.
2. Vận hạn theo đại, tiểu hạn.
– Đại hạn đến cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi hoặc tiểu hạn đến các cung đó. Cả nam lẫn nữ, tiểu hạn qua Thìn, Tuất Sửu, Mùi là năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là những cung thổ, khắc thủy của bổn mạng và chi Tý khiến thủy khô kiệt. Ngộ cát tinh thì giảm tốt, ngộ sát-tinh thì tai vạ trùng trùng điệp điệp.
– Đại hạn, qua cung Mão: Tiểu hạn nam mạng năm Tỵ, nữ mạng năm Mùi, qua cung Mão thuộc mộc. Mệnh thủy, chi Tý thuộc thủy sinh mộc, bị hút mất năng lực. Sức khỏe thường yếu kém, tiền bạc hao tán, công danh khó đạt. May nhờ Hồng-loan tọa thủ, cũng có nhiều may mắn. Nữ mạng hạn tới đây tốt hơn, vì được Thanh-long tọa thủ là ngôi sao chủ tin mừng. Nếu gặp cát tinh tọa thủ cũng chỉ khá vào 5 năm cuối đại hạn, và nửa năm cuối tiểu hạn.
Rủi ro ngộ Kiếp, Không, Hình, Kị thì họa trùng trùng.
– Đại hạn tới cung Tỵ. Nam mạng tiểu hạn năm Mùi, nữ mạng tiểu hạn năm Tỵ đều qua cung Tỵ. Cung Tỵ thuộc Hỏa, bị mệnh, chi Tý thuộc thủy khắc thì dễ thành công, chiến thắng. Tiếc rằng Triệt án ngữ, nên tuy Lộc-tồn tọa thủ ở trong cung mà không phát lớn.
– Đại hạn tới cung Dậu. Hoặc nam mạng tiểu hạn năm Hợi, nữ mạng năm Sửu tiểu hạn qua cung Dậu, thuộc kim. Kim sinh ra bổn mạng và chi thủy, dù ngộ Tuần, nhưng vẫn tốt.
– Đại hạn tới cung Hợi. Nam mạng tiểu hạn năm Sửu, nữ năm Hợi, tiểu hạn qua cung Hợi thuộc thủy, phò trợ cho bổn mạng. Chi Tý thuộc thủy, gặp sao tốt tọa thủ tốt hơn, sát tinh lâm cũng giảm xấu.
3. Phải nhớ tính chất đặc-thù của tuổi Tý: Khi đại tiểu hạn qua cung Dần, Thân, hay Tý, Ngọ rất xấu. Cái cách độc hại là đại, tiểu hạn tương xung ở Dần, Thân hoặc Tý, Ngọ, đáng sợ. Có sao tốt tọa thủ ở trong thì cũng nghiêng ngửa. Chẳng may sát tinh tọa thủ cả ở hai nơi, phải nói rằng đó là hạn chết.
Tử-vi kinh nói:
Nhân sinh Tý mệnh kị Dần, Thân.
Nghĩa là tuổi Tý kị hạn tới cung Dần, Thân.
Lại cũng nói:
Tý, Ngọ bất nghi đáo bản thân.
Nghĩa là tuổi Tý, Ngọ khi hạn đến cung Tý, Ngọ rất độc.
Vậy khi đại hạn qua Tý, Ngọ, Dần, Thân là xấu, còn tiểu hạn, nam hay nữ năm Tuất, Thìn, Dần, Thân qua cung Tý, Ngọ, Dần, Thân cũng xấu.
4. Trên đây là đại lược về đại-tiểu hạn Bính-Tý theo Âm-Dương, Ngũ-Hành. Như trong phần đầu chúng tôi đã nói: Âm-Dương, Ngũ-hành như cái dây lớn của lưới cá (Cương = dây lưới cá. Mục = Các mắt lưới cá) chỉ dùng đại-cương, còn phải tùy theo sao thủ hạn. Nếu theo Âm-Dương, Ngũ-Hành mà tốt, thì dù gặp sao tọa thủ xấu cũng không đáng sợ. Còn khi sao tọa thủ tốt, mà Âm-dương, Ngũ-hành xấu, thì xấu được giảm đi.

Học Phong Thủy


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét