TUỔI GIÁP TÝ
Mệnh Hải Trung Kim (Kim ở trong biển).
Sinh từ:
5 tháng 2 năm 1924 đến 24 tháng 1 năm 1925.
2 tháng 2 năm 1984 đến 19 tháng 1 năm 1985.
5 tháng 2 năm 1924 đến 24 tháng 1 năm 1925.
2 tháng 2 năm 1984 đến 19 tháng 1 năm 1985.
Học Phong Thủy
I- Nghiên cứu ngũ hành
1. Giáp
thuộc:
- Âm
dương: Thuộc dương.
- Ngũ
hành: Thuộc mộc.
- Ngũ
quí: Thuộc mùa Xuân.
- Ngũ
phương: Thuộc phương Đông.
- Ngũ
khí: Thuộc phong.
- Ngũ
hóa: Thuộc sinh.
- Ngũ
sắc: Thuộc màu xanh.
- Ngũ
vị: Thuộc vị tuấn (chua).
- Lục
phủ: Thuộc đởm. Liên hợp với túc Thiếu-dương đởm kinh.
- Ngũ
quan: Thuộc mục (Mắt).
- Hình
thể : Thuộc can (Gan).
- Tình
chí: Thuộc nộ (Giận).
2. Tý
thuộc:
- Âm dương:
Thuộc dương.
- Ngũ
hành: Thuộc thủy.
- Ngũ
quí: Thuộc mùa Đông.
- Ngũ
phương: Thuộc phương Bắc.
- Ngũ
khí: Thuộc hàn (Lạnh).
- Ngũ
hoá: Thuộc tàng (Ẩn, dấu).
- Ngũ
sắc: Thuộc màu đen.
- Ngũ
vị: Thuộc hàm (Mặn).
- Lục
phủ: Thuộc bàng quang. Liên hợp với túc Thái-dương bàng-quang kinh.
- Ngũ
quan: Thuộc nhĩ (Tai).
- Hình
thể: Thuộc cốt (Xương).
- Tình
chí: Thuộc khủng (Sợ).
- Thời
gian: Từ 23 giờ tới 1 giờ, tháng thuộc tháng 11 Âm-lịch.
- Con
vật tượng trưng: Con chuột.
II- Cá tính
1. Giáp
thuộc dương, Tý cũng thuộc dương, kết lại thành tuổi thuần dương. Giáp đứng đầu
10 Can. Tý đứng đầu 12 chi. Tuổi Giáp Tý đứng đầu hoa giáp 60 năm. Dùng Can,
Chi để ghi năm, tháng, ngày giờ là đặc thù của các nhà làm lịch Việt-Nam,
Trung-Quốc. Trong khi Tây-phương dùng năm sinh của chúa Giê-su làm mốc để ghi
thời gian. Năm đầu tiên lịch Việt-Hoa ghi là năm Giáp Tý, năm thứ nhất đời vua
Hoàng-Đế.
1.1. Đây
là nói về trước, sau chứ tuổi Giáp Tý không phải là tuổi đứng đầu về tài sản,
hay công danh so với tuổi khác. Nhiều người lầm lẫn cho rằng tuổi Giáp Tý vượt
lên trên 60 tuổi khác. Đó là một sự tưởng-tượng sai lầm, không căn cứ.
1.2.
Giáp Tý mệnh hải-trung-kim (Kim trong biển). Chi Tý thuộc thủy. Kim sinh thủy,
như vậy mệnh sinh Chi. Mệnh là thiên-tư, là bản-chất con người, là phần cố định
không thể thay đổi. Chi là địa-bàn chủ thay đổi. Mệnh sinh Chi vì vậy tuổi Giáp
Tý có tính quyết-đoán sáng suốt, có thiên-tư và năng khiếu đặc-biệt để nhận xét
biến-chuyển, có năng-lực điều-khiển tình-thế, khi tình-thế thay đổi. Tử-vi-kinh
nói rằng:
"Hành
sự mẫn tiệp.
Phùng
sự bất loạn.
Thích
nghi nhi đắc thiên hạ" (1)
Nghĩa
là: Giáp Tý hành-sự minh-mẫn, dựa vào biến-cố để thích-nghi mà trị được
thiên-hạ.
2. Chi
Tý thuộc thủy sinh ra Can Giáp thuộc mộc. Chi là địa-bàn chủ thay đổi. Giáp là
biến-chuyển không-gian, thời-gian ảnh-hưởng vào người. Giáp-Tý có Chi chủ các
thay đổi. Chính những thay đổi đó hợp với không-gian, thời-gian tác-dụng vào
người. Đó là thuận-lý thành-công, cuộc đời đầy những biến chuyển may mắn thuận
lợi cho mình. Mệnh kim, khắc Can Giáp thuộc mộc cho nên bản thân hay mâu-thuẫn
với chính việc làm của mình.
2.1. Thế
nào là mệnh sinh Chi, thế nào là có tinh-quyết sáng suốt? Trong khoa Tử-vi,
mệnh là thiên-tư trời ban cho, là bản chất con người khó thay đổi. Muốn thay
đổi thiên-tính phải nhờ hoàn-cảnh, giáo-dục. Hoàn-cảnh, giáo-dục cũng chỉ thay
đổi được 40% bản-tính. Khi đứa trẻ ra đời, cha mẹ xem Tử-vi, vội lựa chọn một
đường lối giáo-huấn theo chiều-hướng đặc biệt mong muốn. Trong Tử-vi gọi lối
giáo-dục này là phương pháp "chuyển Mệnh".
2.2.
Dưới đây xin trích dẫn hai cuộc chuyển mệnh trong lịch sử Á-châu:
Tuệ-trung
Thượng-sĩ (Tục danh Trần-quốc-Tảng 1252-1313) là con thứ nhì Hưng-Đạo vương.
Khi mới sinh ra được Huệ-túc phu-nhân chấm số. Phu-nhân giải rằng sau lớn lên
Quốc-Tảng sẽ say mùi Thiền, đi tu, đắc đạo thành Phật. Bấy giờ đất Đại-Việt
phía Bắc đang lo chống Mông-cổ xâm lược, phía Nam còn lo phòng Chiêm-thành đánh
phá. Hưng-đạo-vương không muốn cho con đi tu, huấn-luyện Quốc-Tảng bằng lịch sử
anh-hùng của dân Việt-Nam, và những cái nguy hại của Mông-cổ, Chiêm-thành,
khích Quốc-Tảng nổi lòng hào-hùng muốn cứu dân Đại-Việt.
Đường
lối giáo-dục đó làm thay đổi phần nửa cuộc đời của Quốc-Tảng. Nửa đầu cuộc đời,
ngài làm đại-tướng chiến thắng Mông-cổ. Sau khi hết giặc, ngài đi tu, và đắc
đạo.
2.3. Một
tích khác, trong triết-học Á-châu:
Mạnh-Tử
là một đại-triết gia Trung-Quốc, thủa nhỏ mồ côi cha, ở với mẹ. Nhà ông ở cạnh
cửa hàng thịt. Hàng ngày ông sang cửa hàng thịt xem đồ tể giết heo. Ông bắt
chước, về nhà rủ bạn, lấy đất nặn thành heo, rồi đem... giết, miệng kêu eng-éc
như heo bị chọc tiết. Mạnh mẫu lo sợ, dọn nhà đi nơi khác. Nhà thứ nhì cạnh nhà
đòn. Hàng ngày Mạnh-Tử xem người ta đưa đám. Trở về ông cùng bạn khóc lóc, đào
đất chôn người nộm.
Mạnh mẫu
lại dọn nhà lần nữa. Lần này dọn đến bên cạnh trường dạy học của Tăng-Tử. Hàng
ngày Mạnh-Tử xem học trò Tăng-Tử học lễ nghĩa. Thấy thầy thì quì lạy, thấy bạn
thì chắp tay xá. Ông cũng bắt chước.
Khi thấy
Mạnh-mẫu về, ông cũng quì xuống hành lễ, thấy bạn hữu cũng chắp tay xá.
Mạnh-mẫu mừng lắm, xin với Tăng-Tử cho con theo học. Sau Mạnh-tử trở thành nhà
hiền-triết Trung-Quốc, được tôn là Á-thánh. Địa vị tôn kính chỉ thua Khổng-Tử
được tôn là thánh.
3. Tuổi
Giáp Tý thiên-tư sinh ra có tính quyết-đoán sáng suốt. Mọi quyết đoán của họ
đều hợp tình, hợp lý. Họ thông-minh, mẫn-tiệp, họ biết nghe lời khuyên, lời
cố-vấn, lời dạy-dỗ của người khác, rồi trở lại với suy-tư của chính họ, đưa ra
quyết-đoán. Quyết-đoán bao giờ cũng là quyết-đoán thích-hợp với hoàn cảnh cá
nhân, với không-gian, thời gian của họ để đi đến thành công.
3.1.
Thiên-tư, năng-khiếu đặc biệt của Giáp-Tý là hiểu hết những gì đã, đang và sắp
xẩy ra xung quanh họ. Nhờ đó khó có kẻ lừa dối, đâm sau lưng họ. Một việc, một
sự việc xẩy ra, chỉ cần vài chi-tiết, họ hiểu nguyên-ủy vấn đề và nắm được ngay
căn bản của biến-chuyển
3.2. Một
tỷ dụ năm 1779 khi vua Quang-Trung mang 10 vạn quân ra Bắc-Hà đánh quân Thanh.
Quân Thanh có 20 vạn người và 100 vạn dân phu, đã chiếm được nửa nước Việt-Nam.
Nhưng chỉ một tin báo rằng Tôn-sĩ-Nghị dành ba đội quân tinh nhuệ nhất vào công
tác giữ đường: một đạo giữ cầu phao bắc ngang sông Hồng-hà. Một đạo giữ ngả
đường thông với Quảng-đông. Một đạo giữ ngả đường thông với Vân-Nam. Ngài có
thiên-tư, năng khiếu đặc biệt để nhận xét biến chuyển, nên giải đoán rằng tuy
với quân-số đông đảo, chiếm được nửa nước Việt, nhưng Tôn-sĩ-Nghị chưa nắm được
phần thắng, trong lòng lo sợ, nên mới dành ba đạo quân tinh nhuệ nhất để bảo vệ
đường rút quân.
Ngài
biết rằng đạo làm tướng mà trong lòng trì nghi không quyết, thì chỉ cần dọa,
tâm thần ắt rối loạn. Tướng rối loạn trong lòng hỏi sao quân-sĩ không bị mất
quân khí? Chỉ cần vừa đánh vừa hư trương thanh-thế, giặc sẽ bỏ chạy.
Quả
nhiên sau đó chỉ một trận, ngài quét sạch 20 vạn quân và 100 vạn dân-phu nhà Thanh
ra khỏi đất nước.
4. Họ có
năng-lực điều khiển được tình-thế trước hoàn cảnh cá nhân của mình, trước hoàn
cảnh tập thể họ nào đó, hay lớn hơn trước hoàn cảnh quốc-gia và thế-giới.
4.1. Có
tài quyết-đoán sáng suốt, có tài nắm được thời cuộc. Biết là một chuyện, làm là
một chuyện khác. Hồ-quí-Ly chẳng biết rằng muốn chống quân Minh phải có lòng
dân, mà không làm thế nào để lấy được lòng dân, để rồi bị Trương-Phụ bắt sống
đem về Kim-Lăng (2) đấy ư?
4.2.
Tuổi Giáp Tý có khả-năng đó. Chính vì ba năng khiếu:
- Quyết
đoán sáng suốt.
- Thiên
tư, năng khiếu nhận xét biến chuyển.
- Khả
năng điều khiển tình-thế.
Học Phong Thủy
5.
Giáp-Tý trở thành mẫu người thành-công trên đường đời. Dù cho số Tử-vi đặt họ
vào địa vị nào chăng nữa, họ cũng thành công trong địa vị đó. Họ biết nhận xét
biến chuyển, nên họ dễ thay đổi quyết-định để đi đến thành công. Người không
hiểu họ, cho rằng họ tiền-hậu bất nhất, không lập-trường. Người hiểu họ thì
khâm phục họ khôn ngoan, linh-động.
5.1.
Giáp Tý không giống như Mậu Tý. Mậu Tý là số trời cho tự điều chỉnh được
số-mạng, gặp biến chuyển, họ nhắm mắt quyết định liều, nhưng quyết định của họ
bao giờ cũng là đường lối hành-động khôn ngoan nhất. Còn Giáp Tý thì suy nghĩ
rồi quyết định trong tư-thái nhìn rõ mọi biến chuyển xung quanh, và từ đó họ xoay
chuyển tình thế như ý họ muốn.
5.2.
Giáp Tý cũng không giống tuổi Bính Tý. Bính Tý là tuổi minh-mẫn, gặp việc cần
quyết đoán, họ suy nghĩ, luận cổ suy kim, cân nhắc nhiều đường lối khác nhau,
rồi đưa ra nhiều đường lối với kết luận nhiều kết quả khác nhau. Như vậy tuổi
Giáp Tý nên ở vào địa vị lãnh đạo tối-cao. Tuổi Bính-Tý ở vào địa-vị lãnh-đạo
cao, làm cố-vấn. Vì Bính Tý là người lỗi-lạc quá, nếu ở địa-vị lãnh-đạo
tối-cao, không có người dưới nào dám trình bày ý-kiến trước họ cả. Còn Mậu-Tý
nên làm những chuyên viên cao cấp.
6.
Khuyết điểm trầm-trọng của tuổi Giáp-Tý do mệnh thuộc kim, Can Giáp thuộc mộc.
Mệnh là bản chất con người. Can là những biến chuyển ở ngoài tác dụng vào bản
thân.
Khi mệnh
khắc các biến chuyển ở ngoài tác dụng vào con người thì sẽ xẩy ra những gì?
Thông thường gặp hạn tốt, họ điều khiển được tình thế.
Nhưng
gặp hạn xấu, thì chính tính quyết đoán, làm chủ lấy mọi quyết định, họ không
nghe lời người ngoài khuyên răn. Lúc vận hạn tốt, tuổi Giáp-Tý thực là thần
thánh, quang-minh, lỗi-lạc. Hàng trăm người cố-vấn, họ biết lựa lấy lời cố-vấn
siêu-việt nhất, để hành-sự. Khi hành sự họ khôn ngoan, uyển-chuyển. Khi thấy
việc đang làm có cơ nguy hại, họ bỏ ngay, để làm lại từ đầu. Khi sai lầm, họ
biết hối lỗi sửa đổi. Trong người họ như có hai linh hồn khác nhau. Một tốt,
một xấu.
Nếu ở
giới thợ-thuyền, thì họ là người siêng năng trau dồi nghề-nghiệp. Nếu là
quốc-trưởng họ trông rộng nhìn xa, biết bỏ kiêu căng để nhận lấy lỗi lầm của
mình.
Khi gặp
vận hạn xấu, giới thợ-thuyền trở thành con người cộc cằn, thô-lỗ, ngoan-cố, khó
chơi, ai khuyên không nghe, ai nói không chuyển. Nguyên-thủ quốc gia trở thành
độc đoán, u-mê, tự-tin, tự-kiêu, nhận xét quyết-đoán tự chuyên. Nhất là họ tự
mâu thuẫn với mình. Hôm qua đen, hôm nay trắng, rồi kiêu căng vỗ ngực rằng cả
trắng lẫn đen đều như nhau hết. Ai phê bình thì trở thành kẻ thù, bạn hữu, vợ
con xa lánh... nhưng họ vẫn không nhìn ra sự thật.
Điều này
dễ hiểu, bởi các tuổi Giáp Tý có địa-vị lớn thường thuộc bộ Đế-tượng, Võ-cách.
Khi vận hạn xấu, là lúc gặp hung tinh. Hung tinh phát tác thì tất cả mọi quyết
định sẽ đưa đến thất bại.
7. Khi
bổn mệnh khắc Can, tức là khắc những gì ở ngoài tác-dụng vào mình, tức những
hào-quang được hưởng bị mất đi. Mất sự minh xét biến chuyển, quyết đoán đi đến
sai lầm. Quyết đoán sai lầm thì điều khiển tình thế không còn hiệu-nghiệm nữa.
7.1.
Trên thực tế, khi sắp đến chu-kỳ thất bại, Giáp Tý thường có quyết định mâu
thuẫn, độc tài rồi đổ vỡ. Tử-vi kinh nói:
Thương, tang, hình,
khổn. (3)
Nghĩa là
bệnh tật, tang chế, tù tội, khốn khổ là do vận hạn sinh ra. Xem số tuổi Giáp Tý
cần chú ý đến vận hạn. Khi vận số tốt thì bốc như lửa. Khi vận số xấu thì
sự-nghiệp đổ vỡ mau chóng do chính họ gây ra.
7.2.
Giáp Tý tan nát sự nghiệp khi họ ở tuyệt đỉnh thành-công. Trong lúc say sưa,
huy hoàng, họ tự nhận xét biến chuyển dưới chủ-quan. Khi nhận xét tình thế sai,
thì quyết-định cũng sai. Quyết-định sai thì khả năng điều khiển tình thế mất
đi.
8. Tóm
lại tuổi Giáp Tý là tuổi dễ thành-công trên đường đời. Họ thành-công do chính
khả-năng tuyệt vời của họ. Họ quyết đoán sáng suốt, có thiên-tư nhận xét biến
chuyển và từ đó họ điều khiển được tình thế. Khi gặp vận hạn xấu, họ trở thành
độc-tài, quá khích, không nghe lời ai nữa, rồi đi đến đổ vỡ. Tuổi Giáp Tý tuy
trời cho tính sáng suốt khác đời, nhưng họ cần phải thận trọng, luôn luôn nghe
lời người khác. Lúc họ tự kiêu, tự đắc là lúc họ sắp sụp đổ.
9. Tuổi
Giáp-Tý có ba loại:
- Loại
thứ nhất là loại địa vị trung bình, thường họ làm văn-phòng, hoặc giáo-sư
trung-học. Ở trong quân-đội, cảnh-sát họ cũng chỉ là cấp thừa hành.
- Loại
thứ nhì ở nấc thang cao trong xã-hội: Giáo-sư đại-học, bác-sĩ, kỹ-sư cao cấp,
dân-biểu, nghị-sĩ, luật-sư, thẩm-phán.
- Loại
thứ ba ở nấc tuyệt đỉnh bộ-trưởng, thủ-tướng, tổng-thống.
9.1.
Trong lịch sử thế-giới, có 8 vị hoàng-đế sáng lập cơ nghiệp, hằng trăm vị
tể-tướng, tổng-thống, thủ-tướng tuổi Giáp-Tý. Nhưng hầu hết họ lập thân bằng
võ-nghiệp, rồi từ võ-nghiệp sang nắm quyền điều khiển quốc-gia. Tại sao? Với
khoa Tử-vi, có thể giải-thích được.
Dù con
người gặp cách nào chăng nữa cũng phải nhờ Khoa, Quyền, Lộc mới đạt địa-vị cao.
Mà tuổi Giáp thì Hóa-lộc đi với Liêm-trinh, Hóa-quyền đi với Phá-quân, Hóa-khoa
đi với Vũ-khúc tức thuộc bộ Đế-tượng (Tử, Phủ, Vũ, Tướng), hay bộ Võ-cách (Sát,
Phá, Tham). Những người Giáp-Tý thuộc bộ Văn-đàn (Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương hay
Cự-nhật) dù đắc địa chăng nữa, không có Khoa, Quyền, Lộc, cũng chỉ thuộc loại
thứ nhất.
Còn
những người thuộc bộ Văn-đàn, mà hội được Tả, Hữu, Xương, Khúc, Khôi, Việt,
Lộc-tồn, họ sẽ thuộc loại thứ nhì. Những người thuộc bộ Đế-tượng, Võ Cách, ở
vào chỗ miếu, đắc-địa, thêm Tả, Hữu, Xương, Khúc, Khôi, Việt, Lộc-tồn thì họ
thuộc loại thứ ba. Loại thứ ba đa số xuất thân trong binh-nghiệp. Cho nên mới
nói rằng các quốc-trưởng Giáp-Tý xuất thân võ-nghiệp rồi nắm quyền quốc-gia. Cổ
nhân gọi cách của những nguyên-thủ quốc-gia từ võ sang văn là "Xuất tướng
nhập tướng". Xuất tướng là tướng ra ngoài cầm quân, tức tướng võ, sau đó
làm tổng-thống, thủ-tướng là tướng văn tức nhập-tướng.
9.2. Vua
Lê Thái-tổ có các đại công-thần sau đây tuổi Giáp Tý là Trần-nguyên-Hãn,
Lê-Sát, Trần-quang-Từ. Cả ba đều có số xuất thân làm tướng võ rồi làm tể-tướng.
Trong ba
người, chỉ có Trần-quang-Từ giỏi Tử-vi, biết số mệnh bỏ đi tu được toàn vẹn.
Còn
tả-tướng-quốc Trần-nguyên-Hãn oai-danh khuynh-quốc, chỉ sau vua Lê Thái-tổ, nên
bị nghi-kị, bị hại.(4). Trước khi bị hại, ông đã được bạn là Trần-quang-Từ
thuyết phục rằng nên rời bỏ danh vọng, vì số vua Lê Thái-tổ, có thể ở với nhau
khi hoạn nạn, mà không thể ở với nhau khi sự-nghiệp đã thành. Trần-nguyên-Hãn
đang ở cực điểm danh vọng, không tin, nên mới bị hại.
Còn
Lê-Sát công trận thua Trần-nguyên-Hãn một bậc. Khi vua Lê Thái-tổ băng-hà ông
được cử làm phụ chính đại-thần. Ở địa vị tối cao ông sinh kiêu-căng,
chuyên-quyền, lấn át vua, hại biết bao nhiêu người. Giữa lúc uy quyền
tuyệt-đỉnh đó, ông bị vua Lê-thái-Tông giết chết.
Người
sau đọc sử, thương tiếc cho Trần-nguyên-Hãn, rằng sao không nghe lời
Trần-quang-Từ để đến nỗi thân diệt, vợ con khốn khổ? Lại trách Lê-Sát không
biết tự-chế, trong lúc say sưa quyền binh, thành u-mê đến nỗi nhà tan, thân
chết không toàn vẹn?
9.3. Một
số đông bạo chúa tuổi Giáp Tý. Họ lập thân bằng võ nghiệp. Với ba khả năng đặc
biệt ở trên, họ chiến thắng, lập công, leo lên hàng tướng-lãnh. Từ hàng
tướng-lãnh, họ khôn khéo nắm quyền quốc-gia họ được quân-đội ủng-hộ, được dân
chúng tin tưởng.
Khi
quyền vào tay, là lúc vận số đi vào các sao sát tinh. Hung-tinh khiến họ thành
độc-tài, tàn bạo, chỉ biết uy-quyền mình là tuyệt đối. Cuối cùng họ bị
phản-bội, bị lật đổ, hoặc bị giết chết. Sau khi họ bị thất bại, người hậu thế
tiếc thương cho họ rằng phải chi lúc nắm quyền quốc-gia, họ biết thuận lòng
dân, xây dựng văn-hoá, thực tâm làm lợi quốc-gia thì họ là anh hùng dân tộc.
Nhưng
chẳng qua đó là số-mạng. Lịch sử nhân-loại có rất nhiều anh hùng dân tộc tuổi
Giáp Tý. Họ cũng do võ nghiệp, thành nguyên-thủ quốc-gia, nhưng họ biết nghe
lời cố-vấn, làm cho quốc-gia phú-cường, đến nay lịch sử còn ghi danh họ.
9.4. Kết
lại, cá tính Giáp Tý dù ở địa vị nào, họ cũng có quyết định sáng suốt. Họ nhìn
ngay ra chân tướng sự vật, nên họ thuận thời thế mà thành công. Dù là hoàng-đế,
dù là bộ-trưởng, dù là thợ-thuyền họ cũng có khả năng giống nhau. Có điều
hoàng-đế thì ôm vũ-trụ trong lòng. Bộ-trưởng thì nắm quốc-gia trong tay, còn
thợ thuyền thì họ đi đến tuyệt kỹ của nghề.
Dù ở địa
vị nào, họ cần nghe người cố-vấn, để đừng đi đến chỗ sai lầm mà hỏng tất cả.
Gặp vận-hạn xấu, họ đừng bao giờ tự tin ở mình, phải tìm những người có cung
mệnh lớn, đang ở đại-hạn tốt cố-vấn cho họ. Lúc đang thành-công, cần bỏ
kiêu-căng, tự-phụ, quá khích.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét