TUỔI MẬU TÝ
Mệnh Tích Lịch Hỏa. (Lửa sấm sét)
Sinh từ 10 tháng 2 năm 1948 đến 28 tháng 1 năm 1949
Học Phong Thủy
1. Tuổi Mậu Tý mạng hỏa. Hỏa trong học thuyết
âm-dương, Ngũ-hành liên hợp với :
– Ngũ khí: Thử (Nắng).
– Ngũ hóa: Trưởng (Lớn lên)
– Tạng phủ: Tâm, tâm bào, tiểu trường, tam tiêu. Liên
hợp với thủ Thiếu-âm tâm kinh, thủ Khuyết-âm tâm bào kinh, thủ Thái-dương tiểu
trường kinh, thủ Thiếu-dương tam tiêu kinh.
– Ngũ quan: Lưỡi.
– Hình thể: Mạch
– Tình chí: Hỷ (vui)
2. Bản mệnh là con người. Con người Mậu Tý mạng hỏa.
Chi Tý thuộc thủy, khắc hỏa. Can Mậu thuộc thổ. Hỏa sinh thổ. Can chủ thay đổi
cuộc đời, hay trong y khoa thuộc các tiết khí. Mỗi năm có 24 tiết khí. Trong đó
quan trọng nhất phải kể đến :
– Mùa Hạ, thuộc hỏa, làm cho bản mệnh Tích-lịch hỏa
tăng lên.
– Mùa Xuân thuộc mộc, khắc thổ. Vì vậy thổ sẽ cần đến
hỏa trợ giúp mạnh hơn để chống với thời khí tính giảm đi.
3. Về phương diện y học, tâm, tâm bào thuộc hoả, tương
thông biểu lý với tiểu trường, tam tiêu. Tâm, tâm bào thuộc lý, thuộc bên
trong. Tiểu trường, tam tiêu thuộc biểu thuộc bên ngoài. Khi bệnh cập tâm, tâm
bào, thì ản hướng sang tiểu trường, tam tiêu và ngược lại.
Tâm, tâm bào chủ:
– Huyết, mạch.
– Chủ thần chí, tương đương với Tây-y là các bệnh thần
kinh.
– Hoa của tâm hiện lên ở mặt.
– Lưỡi là quan của tâm.
4. Bản mệnh Mậu Tý thuộc hỏa, ứng với tâm. Chi Tý
thuộc thủy ứng với thân. Can Mậu thuộc thổ ứng với tỳ, vị. Thông thường:
– Can thổ sinh mệnh hỏa. Tức công năng tỳ vị sinh công
năng của tâm.
– Can thổ khắc chi Tý. Tức công năng tỳ vị, khắc công
năng của thận.
– Chi Tý thuộc thủy khắc mệnh thuộc hỏa. Tức công năng
thận khắc công năng tâm.
Như vậy mệnh hỏa bị chi Tý khắc. Song chi Tý bị can
Mậu khắc. Thành ra mệnh hỏa không bị chi khắc làm bao. Ngược lại được can sinh
ra. Hỏa tính vẫm mạnh.
5. Mệnh thuộc bản chất cơ thể. Chi do tác dụng ở ngoài
vào người, thường thay đổi theo thời gian. Can là hoàn cảnh ở ngoài ảnh hưởng
vào cơ thể. Hay nói khác đi, mệnh thuộc tiên thiên tính, do cha mẹ sinh ra. Chi
do thời khí biến đổi, sinh ra bệnh. Can thuộc không gian nơi cư ngụ.
Bản chất Mậu Tý thuộc hỏa, thuộc tâm, đáng lẽ tân hoả
vượng sinh bệnh. May mắn thay chi Tý khắc, nên hoả tính giảm đi. Nhưng chi Tý
bị can Mậu kiềm chế. Do vậy Mậu Tý bị bệnh hay không, thường căn cứ vào từng lá
số khác nhau chứ tuổi Mậy Tý không có bệnh tật đặc biệt được "ưu ái"
dành cho.
Học Phong Thủy
6. Mậu Tý bị bệnh, thường thuộc không gian, thời gian,
tức do cung của năm nhập hạn.
6.1. Năm Tý.
Nam nữ đều nhập hạn cung Tuất, thuộc thổ. Chi Tý tuy
mạnh thêm, dàn áp hoả, nhưng thổ khắc thủy. Vì vậy con người bình thường. Những
người bị bệnh bẩm sinh, bệnh sẽ trầm trọng lên. Nếu người nào sinh tháng hai,
tám hoặc giờ Sửu, Hợi, năm này bệnh hoạn liên miên. Người nào sinh tháng hai, 8
hoặc giờ Sửu, Hợi bệnh cang tăng.
6.2. Năm Sửu, Dần.
– Nam nhập hạn cung Hợi, Tý thuộc thủy. Thủy tính
tăng, mệnh hoả bị khắc mạnh. Hoả thuộc dương. Vì vậy hai năm này sẽ bị bệnh áp
huyết thấp, cảm lạnh, phong thấp. Người nào bị huyết áp cao, ngược lại hứa hẹn
một năm tốt đẹp. Bệnh giảm. Người nào sinh tháng 3 hay 9, năm Sửu bệnh tật dài
dài. Năm Dần, người nào sinh tháng 4 hay 10, hay giờ Sửu, Hợi bệnh tăng cao.
– Nữ mệnh nhập hạn cung Dậu thuộc kim. Kim sinh chi
thủy mạnh, thành ra bản mệnh hỏa kém đi. Đã vậy năm Sửu nhập hạn cung Dậu ngộ
Bệnh-phù, năm Dần nhập hạn cung Thân ngộ Bạch-hổ. Dễ sinh bệnh dường hô hấp,
bệnh phổi, bệnh ngoài da. Người nào sinh tháng giêng, 7 hoặc giờ Dần, Tuất thì
năm Sửu bệnh ho, suyễn khó tránh. Người nào sinh tháng 6, 12, giờ Mão, Dậu, thì
năm Dần, bị nặng hơn. Bởi Tý mệnh kị nhập hạn cung Thân.
6.3. Năm Mão, Dậu.
– Năm Mão nam nhập hạn cung Sửu. Nữ nhập hạn cung Mùi.
Năm Dậu, nam nhập hạn cung Mùi, nữ nhập hạn cung Sửu. Tất cả thuộc thổ. Thổ
sinh bản mệnh thuộc hoả. Năm này hoả tính tăng. Người nào thuộc dương tính, có
thể bị máu cao, sốt, chóng mặt. Hoặc có thể bị bệnh tỳ, vị. Người nào máu thấp,
âm tính hứa hẹn một năm khỏe mạnh.
– Riêng nam mạng năm Mão ngộ Bệnh-phù, dù mệnh tốt,
sao nhập hạn tốt cũng bệnh tất dai dẳng khó chịu. Năm Dậu đỡ hơn. Người nào
sinh tháng 5, 11 bệnh càng dù năm Mão, Dậu bệnh cũng nặng. Nếu năm Mão sinh giờ
Dần, năm Dậu sinh giờ Thìn, Thân, bệnh tỳ, vị, hay phong thấp sẽ tới.
– Nữ mạng, năm Mão, Dậu sinh tháng 5, 11, bệnh tỳ,
nhức đầu. Nếu năm Mão sinh giờ Thìn, Thân, năm Dậu sinh giờ Dần, Tuất bệnh ho,
suyễn, đường hô hấp hay phong thấp.
6.4. Năm Thìn, Tỵ.
– Nam nhập hạn cung Dần, Mão, thuộc mộc. Bản mệnh
thuộc hoả, được cung nhập hạn sinh ra. Hứa hẹn thời gian tương đối khoẻ mạnh.
Tuy nhiên năm Thìn, ngộ Tang-môn ở Dần, lại nữa Tý mệnh kị nhập hạn cung Dần.
Năm nay không hứa hẹn khoẻ mạnh. Năm Thìn, người sinh tháng 6, 12 hay giờ Mão,
Dậu, phải nói là năm "bệnh tật" coi chừng bệnh đường tiểu tiện. Năm
Tỵ, người sinh tháng 1, 7 hay giờ Thìn, Thân coi chừng bệnh tim, máu cao, nhức
đầu.
– Nữ mệnh nhập hạn cung Ngọ, Tỵ đều thuộc hoả. Bản
mệnh thuộc hoả. Vì vậy người nào thuộc dương tính, bệnh sẽ tăng. Người nào
thuộc âm tính, bệnh giảm. Người nào sinh tháng 4, 10 hay Tỵ, Mùi. Bệnh suyễn,
ho, bệnh đường hô hấp khó tránh.
6.5. Năm Ngọ
Nam, nữ nhập hạn cung Thìn, thuộc thổ. Nam ngộ Đà. Nữ
ngộ Kình. Lại năm thổ sinh mạng hoả. Hoả tính thêm mạnh. Nam mệnh bị phong
thấp, nhức đầu. Nữ mệnh nhờ ngộ Lực-sĩ, khỏe mạnh. Trừ những người sinh tháng
2, 8, hoặc sinh giờ Tỵ, Mùi, phải nói là năm cực xấu về bệnh.
6.6. Năm Mùi, Thân.
– Nam nhập hạn cung Tỵ, Ngọ đều thuộc hoả. Bản mệnh
thuộc hoả. Ngộ hoả cung nhập hạn, hoả tính tăng. Năm Mùi ngộ Lộc-tồn, thuộc
thổ. Hứa hẹn tốt đẹp. Tuy nhiên phòng bệnh huyết áp cao, bệnh gan, nhức đầu.
Người sinh tháng 3, 9 càng đáng ngại. Năm Thân ngộ Kình, Lực, hứa hẹn một năm
khỏa mạnh. Tuy nhiên nếu sinh tháng 4, 10 hay giờ Tỵ, Mùi lại hoá một năm phòng
ho, suyễn, nhức đầu, đau xương.
– Nữ mệnh nhập hạn cung Mão, Dần, thuộc mộc, sinh hoả.
Hoả cũng tăng. Đề phòng bệnh gan. Tuy nhiên năm Thân nhập hạn cung Dần, ngộ
Tang-môn, thêm Tý mệnh kị nhập hạn cung Dần. Năm này phải nói là năm tối đề
phòng xe cộ, hay bệnh phong thấp, bệnh tiểu đường. Nếu sinh tháng 6, 12 hay giờ
Mão, Dậu càng đáng lo ngại. Năm Mùi nhập hạn cung Mão, nếu sinh tháng 1, 7 hay
giờ Thìn, Thân, chắc chắn bệnh gan, hay huyết áp cao.
6.7. Năm Tuất, Hợi.
– Nam mệnh nhập hạn cung Thân, Dậu, thuộc kim. Hoả
khắc kim. Năm Tuất nhập hạn cung Thân ngộ Bạch-hổ, hơn nữa tuổi Tý kị cung này.
Bệnh phong thấp, đau xương, đau lồng ngực. Hoặc bệnh ho suyễn. Nếu lại sinh
tháng 6 hay 12 hay giờ Mão, Dậu, thì thực một năm đại họa. Năm Hợi nhập cung
Dậu, đỡ hơn. Tuy vậy nếu sinh tháng 1, 7 hay giờ Dần, Tuất, e tai vạ không nhỏ.
– Nữ mệnh nhập hạn cung Tý, Hợi thuộc thủy, khắc bản
mệnh thuộc hoả. Người âm chứng bệnh cũ càng thêm nặng. Người dương chứng bệnh
thuyên giảm. Tuy nhiên người sinh tháng 3, 9 hoặc khó tránh khỏi tai vạ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét