TUỔI GIÁP TÝ
Mệnh Hải Trung Kim (Kim ở trong biển).
Sinh từ:
5 tháng 2 năm 1924 đến 24 tháng 1 năm 1925.
2 tháng 2 năm 1984 đến 19 tháng 1 năm 1985.
5 tháng 2 năm 1924 đến 24 tháng 1 năm 1925.
2 tháng 2 năm 1984 đến 19 tháng 1 năm 1985.
Học Phong Thủy
IX. Bệnh tật tuổi Giáp-Tý
1.
Tuổi Giáp Tý thuộc mạng kim, kim trong học thuyết Âm-dương, Ngũ-hành liên hợp
với:
-
Ngũ khí. Thuộc táo (Khô).
-
Ngũ hóa. Thuộc thu (Co vào).
-
Ngũ tạng. Thuộc phế, đại-trường. Liên hợp với thủ Thái-âm phế-kinh, thủ
Dương-minh đại trường kinh.
-
Ngũ quan. Thuộc tị (Mũi).
-
Hình thể. Thuộc bì mao (Lông da).
2.
Bản mệnh là con người thuộc kim, thuộc phế, đại-trường. Phế, đại-trường là hai
tạng phủ tương thông biểu-lý. Phế thuộc tạng thuộc âm, thuộc lý, Đại-trường
thuộc phủ, thuộc Dương thuộc biểu. Khi bệnh cập phế thì ảnh hưởng sang đại
trường và ngược lại.
-
Phế chủ khí, chủ hô hấp. Khi công năng của phế không điều hòa, thì hô hấp
vô-lực, âm thanh nhỏ, toàn thân mê mệt. Nếu công năng gián đoạn, hô hấp đoạn
tuyệt, thiên mệnh chấm dứt tức... chết.
-
Phế chủ tuyên giáng, ngoại hợp với bì mao. Khi phế có bệnh thì ảnh hưởng tới bì
mao. Ngược lại bì, mao có bệnh, thì ảnh hưởng tới phế.
-
Phế chủ thông với thủy đạo, bởi vậy khi phế bị bệnh, cơ thể con người sinh ra
phù thủng.
-
Mũi là quan của phế, khi phế có bệnh ảnh hưởng tới mũi, ngược lại mũi có bệnh
thì biết phế cũng có bệnh.(7)
3.
Bệnh của phế có thể phân làm hai
3.1.
Một là ngoại tà xâm nhập sinh ra các bệnh:
Nghẹt-mũi,
đau cổ hầu, nghẹt thở, ho suyễn. Tương đương với Tây-y (Rhinites,
Rhino-pharyngites, Corryza, Bronchites, Broncho- Asthmatiques), và một phần của
các bệnh cảm, cúm (État grippal). Tất cả chia làm ba loại:
-
Hàn tà phạm phế. Ho, suyễn, đàm trắng, miệng không khát, mũi nghẹt chảy nước
trong, hoặc ác-hàn phát nhiệt, đầu, thân đau. Theo Tây-y là nhiễm trùng đường
hô hấp. (Loại siêu vi trùng).(8)
-
Nhiệt tà phạm phế, ho suyễn, đờm vàng, hầu đau, miệng khát, phát nhiệt, ác
phong hàn, hoặc lồng ngực đau, thổ huyết. Đại tiện kết bón, tiểu tiện vàng đỏ.
Theo Tây-y là nhiễm trùng đường hô hấp. (Loại vi trùng).
-
Táo tà phạm phế, ho khan không đàm, đàm khò khè, khạc không ra, mũi khô, hầu
khô, ho nặng thì đau ngực. Tây-y qui vào nhiễm trùng đường hô hấp. (9)
3.2.
Hai là công-năng của phế suy yếu:
-
Phế khí hư. Người mệt, suy nhược, ho suyễn vô lực, hoạt động càng thêm nặng, âm
thanh vô lực, mồ hôi xuất, sợ lạnh, sắc mặt trắng nhợt. Tây-y qui vào phế viêm
kinh niên. (10)
-
Phế âm hư. Ho khô, hơi thở ngắn, đàm ít, hoặc đàm có huyết, miệng, hầu khô, âm
thanh yếu, hình thể gầy gò, mồ hôi trộm, sau 12 giờ trưa sốt. Tây-y qui vào
chứng ho lao. (11)
4.
Bản chất cơ thể là kim, khi sinh bệnh thì diễn ra những chứng trên hoặc bệnh
ngoài da.
Nếu
bản chất cơ thể mạnh, thì phế không bệnh. Phế thuộc kim, kim khắc mộc. Can Giáp
thuộc mộc bị bản mệnh khắc. Trong học thuyết Âm-Dương, Ngũ-hành, nếu tương-khắc
thái quá gọi là tương-thừa. Tương-thừa là thừa cơ suy nhược mà xâm lấn. Phế
mạnh thừa Can. Can chủ huyết, chủ âm. Khi phế khắc can huyết thì sinh ra huyết
hư, chứng trạng như sau:
-
Sắc mặt trắng nhợt, hoặc vàng úa.
-
Mắt hoa đầu váng.
-
Trong lòng hồi hộp lo sợ, mất ngủ.
-
Chân tay tê dại.
-
Phụ nữ kinh kỳ lượng ít, hoặc mất kinh.
Tây-y
là chứng mệt mỏi (Asthénie), mất ngủ (Insomnie) hay thần kinh suy nhược
(Neurathénie)(12)
Học Phong Thủy
5.
Nếu tương-thừa mạnh quá, can âm đưa đến "Can dương thượng thăng",
chứng trạng như sau:
-
Huyết áp cao (Hypertention artérielle).
-
Chóng mặt.
-
Tai kêu.
-
Nhức đầu.
-
Dễ nổi giận.
-
Mất ngủ.
-
Mộng nhiều.
-
Trí nhớ giảm thoái.
-
Đau ngang lưng.
-
Nặng quá sinh não xuất huyết (Hémorragies cérébralles) rồi sinh bán thân bất
toại (Hémiplégies). (13)
6.
Can là tác dụng của ngoại vật vào cơ thể, trong bệnh-lý là ngoại tà. Can Giáp
thuộc gan. Thông thường phế khắc gan. Nhưng khi phế hư nhược, thì gan thừa cơ
hư nhược mà uy hiếp. Học thuyết ngũ hành gọi là tương-vũ, tức cậy mạnh hiếp
yếu. Khi gan-dương mạnh, uy hiếp phế, khiến phế âm hư, sinh ho, suyễn.
7.
Nếu bản chất con người là phế hư nhược, không sinh ra được thận-thủy, đưa đến
thận hư. Kinh-nghiệm cho thấy tuổi Giáp-Tý thường làm việc quá độ khiến phế hư
sinh thận hư chứng trạng là:
-
Mất trí nhớ.
-
Đầu sớm bạc.
-
Tuổi Giáp Tý thường vì phòng-sự quá độ sinh ra mất trí nhớ.
-
Họ cần phải bồi bổ trí nhớ luôn luôn. Tuy họ không coi tình yêu là trọng, nhưng
họ ham chuyện phòng the.
Leo
núi Vu-sơn là lạc thú tuyệt đỉnh của Giáp Tý. Họ cần bổ thận đều đặn. Đừng đợi
đến khi yếu rồi mới bổ thì đã trễ.
8.
Những người tuổi Giáp Tý làm chính-trị, bị huyết áp cao. Khi bệnh khởi đầu,
phải điều trị ngay. Để lâu sinh não xuất huyết, rồi đưa đến bán thân bất toại,
mất hết linh-mẫn trời cho, lạc thú phòng the cũng mất theo.
9.
Tuổi Giáp Tý Thiên-mã ngộ Tang-môn. Lộc-tồn, thì bệnh hay tai nạn thường dẫn
đến chân tay đau đớn. Họ có thể bị phong thấp, khiến đi đứng khó khăn. Những
người tuổi Giáp Tý có địa vị cao, họ phải thù tiếp nhiều, nhưng không bị bệnh
bao-tử, mà bị hạc tất phong (Hyper-acides uriques).
9.1.
Nếu cung tật ách của họ tại Tỵ, họ còn bị đái đường (Diabètes). Phần đông tuổi
Giáp Tý là người có xương, có thịt, dù họ thích ăn cá hơn ăn thịt.
9.2.
Tóm lại tuổi Giáp Tý bản mệnh là phế. Bệnh tật sinh ra khởi nguồn từ phế. Khi
lớn tuổi họ bị chứng huyết-áp cao, đái-đường, hoặc bị chứng hạc-tất-phong. Họ
thích chuyện phòng the, thì phải chú ý bồi bổ thận luôn luôn, đừng để tới
khi... hết rồi mới lo bồi bổ thì đã trễ. Một số lớn tuổi này hay bị mập, dù họ
thích ăn cá.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét