Thứ Ba, 26 tháng 3, 2013

TUỔI CANH TÝ PHẦN 6


TUỔI CANH TÝ

Mệnh Bích Thượng Thổ (Đất ở trên tường)
Sinh từ 28 tháng 1 năm 1960 đến 14 tháng 2 năm 1961

 Học Phong Thủy


VIII. NHÀ TUỔI CANH TÝ
Tuổi Canh-Tý, Lộc-tồn chủ bất động sản, đóng ở cung Thân, ngộ Bạch-hổ là sao chủ hư tán, nên mua, ở nhà cũ tốt hơn làm nhà mới.
Canh-Tý mạng thổ, thuộc trung-ương. Canh thuộc phương Tây, Tý thuộc phương Bắc, vậy ở nhà hướng nào ?
1. Thứ nhất nhà hướng Tây.
Thuộc kim, Canh-Tý mạng thổ, thổ sinh kim, bổn mệnh sinh ra nhà, thuận lợi cho chủ nhân, sức khỏe tốt.
2. Thứ nhì nhà hướng Bắc.
Thuộc thủy, bị bổn mạng thuộc thổ khắc, thuận lợi cho gia chủ, bất lợi cho vợ con.
3. Thứ ba nhà hướng Đông.
Thuộc mộc, khắc bổn mạng Canh-Tý thuộc thổ, làm ăn tán bại, sức khỏe gia chủ nguy hại, con cái, vợ chồng xung đột.
4. Thứ tư nhà hướng Nam.
Thuộc hỏa, sinh ra bổn mạng Canh-Tý thuộc thổ, đây là hướng nhà tốt nhất, thuận lợi đủ đường.

 Học Phong Thủy


IX. BỆNH TUỔI CANH TÝ
1. Tuổi Canh-Tý thuộc mạng thổ, thổ trong học thuyết Âm-dương, Ngũ-hành liên hợp với :
Ngũ khí : Thấp (Ướt).
Ngũ hóa : Hóa (Biến đổi).
Tạng-phủ : Tỳ, vị. Liên-hợp với túc Thái-âm tỳ kinh và túc Dương- minh vị kinh.
Ngũ-quan : Thuộc miệng.
Hình thể : Thuộc nhục (Thịt)
2. Bản mệnh thuộc thổ, tức con người. Khảo sát con người Canh-Tý về phương diện y họ. Tỳ Vị là hai tạng-phủ tương-thông biểu-lý. Tỳ chủ lý chủ bên trong, vị chủ biểu chủ bên ngoài. Khi bệnh cập tỳ thì ảnh hưởng sang vị và ngược lại.
Tỳ chủ :
2.1. Vận hóa, giúp vị trong nhiệm-vụ tiêu-hóa. Khi ăn uống thất-thường, lao thương quá độ, tư-lự không nguôi sẽ đưa đến tỳ-vị hư nhược. Nhiệm vụ của tỳ là vận hóa thủy thấp. Khi tỳ-vị hư nhược thủy thấp đình-lưu, sinh nội thấp. Nội thấp sinh ra làm cản trở sự vận chuyển của tỳ ra ngoài biểu. Ngoài biểu không đủ chống với khí hậu ẩm ướt, do vậy sinh ra ngoại thấp.
Ngược lại khi ngoại thấp mạnh, tỳ khí không đủ chống lại. Ngoại thấp nhập vào ngoài biểu, làm trở ngại sự vận chuyển của tỳ-khí. Tỳ phải làm việc nhiều, để chống ngoại thấp, lâu ngày trở thành hư nhược. Tỳ hư nhược mất sự vận chuyển nội thấp, sinh ra nội thấp. Vậy dù khởi đầu bằng nội hay ngoại thấp, lâu ngày bệnh cũng diễn ra cả nội lẫn ngoại thấp.
2.2. Quan của tỳ là miệng. Khi tỳ bất diệu thì miệng có bệnh, ngược lại tất cả những bệnh trong miệng (Trừ răng và lưỡi) xuất hiện liên quan đến tỳ.
2.3. Tỳ chủ cơ-nhục, và tứ-chi, khi tỳ có bệnh thì tứ chi và cơ nhục bất thường.
2.4. Tỳ chủ tư-lự, yếu tố thần kinh làm hại đến tỳ là tư-lự quá độ.
3. Tuổi Canh-Tý mệnh thổ thuộc tỳ-vị, thì gần như có sẵn cái nghiệp với bệnh do thấp sinh ra. Nhưng một thấp thì bệnh diễn ra giản-dị. Mệnh là bản chất con người, còn chi là địa bàn chủ thay đổi. Chi Tý thuộc thủy, ngũ quan là tai, hình thể là cốt, ngũ tạng thuộc thận. Cái thay đổi do địa bàn làm cho thận bị bệnh. Can Canh thuộc kim được mệnh thổ sinh ra. Can chủ hoàn cảnh ở ngoài tác dụng vào. Canh thuộc phế, ngũ quan là mũi, hình thể là lông da.
Vậy bệnh của Canh-Tý sẽ diễn ra dưới trạng thái nào ?
3.1.Một là ngoại thương.
– Đầu tiên hoàn cảnh ở ngoài tác dụng vào, theo thời khí họ bị bệnh đường hô-hấp : Các bệnh, tai, mũi, họng. Nhưng bệnh tai, mũi, họng có hàng trăm thứ khác nhau, họ bị loại nào ? Bản chất con người là bệnh tỳ-vị
– Nếu vị-nhiệt.
Họ sẽ bị sưng răng, đau lợi, mụn ở môi. Tương đương với Tây-y bị nhiễm trùng.
– Nếu phế, vị nhiệt.
Họ sẽ bị sưng amygdal, phế-viêm, mũi-hầu-viêm, nhiễm trùng phổi cuống họng.
– Trường hợp bản mệnh yếu, thì thấp sinh ra, thấp cũng như cái áo ướt gặp màu đỏ thành đỏ, gặp màu đen thành đen. Khi thấp ngưng ở cơ thể họ bị tỳ-hư kinh niên, tỳ-quá-mãn, suyễn quá mãn.
3.2. Bệnh nội thương.
– Khi thận dương hư suy, không đủ sức điều hòa lượng nước trong người sẽ cùng liên-hệ với tỳ, diễn ra tỳ-thận-dương hư, sinh thủy thủng. Nam thì bất lực, nữ thì huyết trắng, không thụ thai.
– Khi bản thân họ bị suy kiệt, tỳ-vị hư nhược, họ cảm thấy :
– Mập, mà sự thật không phải mập, mà do thủy thấp dinh-lưu.
– Vùng ngực đầy ứ, sờ vào vùng bao tử thấy lạnh.
– Ăn không tiêu, mửa ra nước trắng.
– Không khát nước.
– Nặng sinh ra mất ngủ, trong cổ họng như mắc nghẹn, nuốt không thấy xuống.
4. Thông thường thì chi Tý bị bản mệnh khắc, nên thận thủy không lan tràn, hại cơ thể. Khi tỳ-vị hư nhược, không đủ sức khắc thận thủy, khiến thủy phiếm dật, họ sinh bệnh :
– Ở tiền-liệt-tuyến.
– Phù thủng.
– Bất lực,
– Lãnh cảm.
5. Đại lược về bệnh của Canh-Tý thì thế, còn tùy số nữa. Nếu trong số Tử-vi của họ được cung tật-ách ngộ Tuần, Triệt, thì họ có nhiều cơ duyên chống bệnh, hoặc bị bệnh thì họ gặp thầy gặp thuốc ngay. Cung tật-ách cũng còn tùy bản mạng. Nếu bản mạng họ được những sao phúc tinh tọa thủ như Đồng, Lương, Xương, Khúc, Khoa thì họ ít bệnh. Ngược lại mệnh họ ngộ Tang, Hổ, Riêu, Kị, Hình, Kiếp, Không thì cái lý ngũ hành về bệnh tật sẽ tăng lên.
6. Phần trình bày trên đây là căn bản con người bị bệnh. Nhưng không phải cả đời họ bị bệnh, mà tùy theo vận hạn. Trong Tử-vi định rõ muốn biết bao giờ bị bệnh thì xem vận hạn. Bản chất có bệnh gì, gặp vận hạn xấu mới xuất hiện. Theo nguyên-lý trợ-cách, tuy bản chất có bệnh, nếu gặp được thầy thuốc, có những sao tốt thủ mệnh, sẽ giải được ách.
7. Kết lại tuổi Canh-Tý phải ăn uống điều độ, tránh suy-tư nhiều (Sau bữa ăn) để khỏi tổn thương tỳ-vị là gốc bệnh. Phải lo chích ngừa, để tránh bệnh đường hô hấp. Khi đại, tiểu hạn tới cung Dần, Mão là cung mộc khắc thổ, mới dễ bị bệnh. Bản thân khó tránh bệnh khi hạn qua cung Dần ngộ Tang-môn, và qua cung Thân ngộ Bạch-hổ.

 Học Phong Thủy


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét